BIỂN – BỜ

Diễn đàn về Cảng – Đường thuỷ – Thềm lục địa Việt Nam

Archive for the ‘Biển & hải đảo VN’ Category

Thông tin về biển và hải đảo VN

HẢI PHẬN QUỐC TẾ VÀ ĐÁY ĐẠI DƯƠNG – LS.TS. Phan Đăng Thanh

Posted by phanbachchau on 29.10.2009

   Biển cả (High sea) còn gọi là biển quốc tế hay biển tự do hoặc công hải là vùng biển nằm ngoài các vùng biển thuộc phạm vi chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của các nước ven biển. Người ta cũng thường gọi đó là “hải phận quốc tế”.
Nguồn: phapluattp.vn

Theo Điều 86 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982, biển cả là “tất cả những vùng biển không nằm trong vùng đặc quyền kinh tế, lãnh hải hay nội thủy của một quốc gia cũng như không nằm trong vùng nước quần đảo của một quốc gia quần đảo (archipelagic state)”. Hiện nay ở biển Đông có hai quốc gia quần đảo là Indonesia và Philippines.

Khuynh hướng của các nước phát triển thường không tán thành việc thu hẹp biển cả để tạo điều kiện cho phạm vi hoạt động về mọi mặt của họ được tự do, rộng rãi. Trong khi đó, các nước có biển thì luôn đấu tranh đẩy biển cả ra xa hơn để hạn chế hoạt động của các nước phát triển.

Theo quy định của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 thì ở vùng biển cả, tất cả các nước (quốc gia có biển hay không có biển) đều được hưởng quy chế tự do biển cả. Không quốc gia nào có thể đòi đặt một cách hợp pháp một bộ phận nào đó của biển cả thuộc vào chủ quyền của mình.

Tự do biển cả bao gồm: tự do hàng hải; tự do hàng không; tự do đặt các dây cáp và ống dẫn ngầm dưới biển; tự do xây dựng các đảo nhân tạo và các thiết bị khác được pháp luật quốc tế cho phép; tự do đánh bắt hải sản; tự do nghiên cứu khoa học.

Tàu thuyền hoạt động trên biển cả đều phải mang cờ của quốc gia mà mình mang quốc tịch. Tàu thuyền của quốc gia nào thì thuộc quyền tài phán của quốc gia đó.

2. Phạm vi bên dưới biển cả (đáy đại dương) luật quốc tế gọi là Vùng (the Area). Vùng là đáy biển, đáy đại dương và lòng đất của chúng, ở ngoài thềm lục địa của các nước. Vùng và tài nguyên nằm dưới đáy biển cả và lòng đất dưới đáy biển cả, là di sản chung của nhân loại. Ở đó, không một quốc gia nào có thể đòi hỏi thực hiện chủ quyền hay quyền chủ quyền đối với một phần nào đó của Vùng hoặc đối với tài nguyên của Vùng.

Toàn thể loài người mà tổ chức Cơ quan quyền lực (the Authority) là người thay mặt, có tất cả các quyền đối với các tài nguyên của Vùng. Việc thăm dò và khai thác tài nguyên của Vùng đều phải được thông qua Cơ quan quyền lực quốc tế ấy.

Tóm lại, tính theo thứ tự từ bờ biển đi ra thì nội thủy là vùng nước nằm trong đường cơ sở, quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ và tuyệt đối (coi như đất liền); lãnh hải là vùng biển nằm ngoài đường cơ sở, không quá 12 hải lý, quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ nhưng không tuyệt đối (vì tàu thuyền nước khác có quyền qua lại không gây hại), hết lãnh hải là hết chủ quyền lãnh thổ của quốc gia ven biển.

Ra ngoài lãnh hải là vùng đặc quyền kinh tế (không quá 200 hải lý); dưới đáy vùng đặc quyền kinh tế là thềm lục địa (không quá 200 hải lý, có nơi mở rộng tới 350 hải lý). Ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, quốc gia ven biển chỉ có một số quyền chủ quyền đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế và quyền tài phán quốc gia…

Xa khỏi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa là hải phận quốc tế, biển tự do. Nói là “tự do” nhưng không phải “muốn làm gì thì làm” mà quốc gia nào muốn đến đó thăm dò, khai thác tài nguyên đều phải làm thủ tục với Cơ quan quyền lực – một tổ chức thay mặt cho cộng đồng quốc tế.

Posted in Biển & hải đảo VN | Leave a Comment »

NỘI THỦY VÀ LÃNH HẢI

Posted by phanbachchau on 26.10.2009

    Nội thủy (internal waters) là vùng nước nằm giáp bờ biển, phía bên trong đường cơ sở. Còn lãnh hải là vùng biển tiếp sát với nội thủy, ở phía bên ngoài đường cơ sở. Nguồn: phapluattp.vn

>>> Biển chia nhiều vùng với quy chế khác nhau

Nội thủy và lãnh hải là hai vùng biển giáp nhau, đều thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển. Song nội thủy và lãnh hải có quy chế pháp lý khác nhau theo hướng là càng cách xa bờ thì quyền của nước có biển càng giảm bớt đi.

Vùng nước nội thủy về mặt pháp lý đã nhất thể hóa với lãnh thổ đất liền nên có chế độ pháp lý đất liền, nghĩa là đặt dưới chủ quyền toàn vẹn, đầy đủ và tuyệt đối của quốc gia ven biển. Tàu thuyền nước ngoài nào muốn vào ra nội thủy đều phải xin phép quốc gia ven biển và phải tuân theo luật lệ của nước đó. Nước ven biển có quyền không cho phép.

Lãnh hải (territorial sea) là lãnh thổ quốc gia nằm dưới biển, là biển thuộc lãnh thổ quốc gia. Ranh giới phía ngoài của lãnh

hải được coi là đường biên giới quốc gia. Công ước về Luật Biển năm 1982 quy định chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia ven biển không vượt quá 12 hải lý (tức 22,224 km) tính từ đường cơ sở. Tuyên bố ngày 12-5-1977 của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng nêu rõ: “Lãnh hải của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lý, ở phía ngoài đường cơ sở”.

So với nội thủy, chủ quyền của quốc gia ven biển đối với lãnh hải “yếu” hơn, nghĩa là quốc gia ven biển cũng có chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ song không tuyệt đối như đối với nội thủy. Có nghĩa là ở đây quyền của quốc gia ven biển được thể hiện cũng như ở lãnh thổ của mình (về lập pháp, hành pháp, tư pháp), trên các lĩnh vực phòng thủ, cảnh sát, quan thuế, đánh cá, khai thác tài nguyên, chống ô nhiễm môi trường, nghiên cứu khoa học… Tuy nhiên, các tàu thuyền nước ngoài có “quyền đi qua lại không gây hại” (right of innocent passage). Quyền này cho phép các nước khác có quyền đi qua vùng lãnh hải của quốc gia ven biển không phải xin phép trước với điều kiện họ không tiến hành bất cứ hoạt động gì gây ra thiệt hại cho quốc gia đó (như: đe dọa hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia ven biển; luyện tập, diễn tập vũ khí; thu thập tin tức tình báo; tuyên truyền nhằm làm hại đến nước ven biển; xếp dỡ hàng hóa, đưa người lên xuống tàu trái quy định của nước ven biển; cố ý gây ô nhiễm môi trường; đánh bắt hải sản; nghiên cứu đo đạc; làm rối loạn hoạt động giao thông liên lạc; thực hiện mọi hoạt động khác không liên quan đến việc đi qua…).

Như vậy nội thủy giống lãnh hải ở chỗ đều là vùng lãnh thổ thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển, song mức độ chủ quyền có hơi khác nhau. Giống như ta làm chủ một cái nhà, phần nội thất từ ngạch cửa trở vô là… đất liền và nội thủy; còn từ cửa trở ra sân vườn, trong vòng rào cổng là.. lãnh hải. Ngoại thất bao giờ cũng “thoáng” hơn nội thất nhưng chúng đều thuộc chủ quyền của chủ nhà.

Posted in Biển & hải đảo VN | Leave a Comment »

CẦU TRUYỀN HÌNH TRỰC TIẾP HÁT VỀ TRƯỜNG SA THÂN YÊU

Posted by phanbachchau on 17.10.2009

   - Lúc 16 giờ ngày 17-10-2009, cầu truyền hình trực tiếp trên HTV9 mang tên “Hát về Trường Sa thân yêu – hát về biển đảo của Tổ quốc” do Đài truyền hình TP.HCM phối hợp Cục chính trị – Bộ tư lệnh hải quân sẽ bắt đầu tại hai điểm cầu tại đảo Trường Sa Lớn và Nhà hát Đài truyền hình TP.HCM. Hai phóng viên Tuổi Trẻ đang có mặt tại Trường Sa đã gửi về những ghi nhận đầu tiên.
Nguồn: tuoitre.com.vn

 

Đất liền luôn nối liền với Trường Sa qua những chuyến tàu vào ra đảo. Trong ảnh: đoàn viên thanh niên trên chuyến tàu HQ957 tham gia hành trình “Tuổi Trẻ vì biển đảo quê hương” vẫy chào các chiến sĩ hải quân khi tàu chuẩn bị cập bến Trường Sa lớn vào tháng 4-2009  – Ảnh: Lê Đức Dục
“TP.HCM với biển, đảo thân yêu của Tổ quốc” là chủ đề của cuộc tổng kết các hoạt động của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP.HCM hướng về Trường Sa những năm qua (2003-2009) tổ chức sáng 17-10 tại TP.HCM.

Có mặt ở Trường Sa Lớn những ngày này mới có thể cảm nhận hết không khí chộn rộn của đảo. Gặp cán bộ chiến sĩ hay tới thăm các hộ dân trên đảo, các thành viên đoàn công tác luôn nhận được những ánh mắt nụ cười nồng ấm như của những người thân quen lâu ngày gặp lại.

Vui nhất là các cháu thiếu nhi, cứ chiều xuống chúng lại ríu rít chạy nhảy quanh khu vực cột mốc đảo, nơi đang dựng sân khấu ở đầu cầu Trường Sa. Thượng tá Vi Đức Thanh – đảo trưởng đảo Trường Sa Lớn nói đây là sự kiện mang ý nghĩa chính trị quan trọng, đảo đã phân công các lực lượng tham gia công tác chuẩn bị đón đoàn với tinh thần hỗ trợ tốt nhất những gì có thể.

Đội văn nghệ được tuyển chọn kỹ lưỡng từ cán bộ chiến sĩ của đảo cùng ba chị em phụ nữ và 10 cháu thiếu nhi của bảy gia đình luyện tập say mê để góp một tiết mục đậm chất Trường Sa.

“Bốn năm công tác ở quần đảo,16 tháng ở Trường Sa Lớn chưa khi nào tôi được đón một chương trình quy mô hoành tráng như thế này”, đảo trưởng Vi Đức Thanh nói.

Dẫn đầu đoàn công tác ra Trường Sa Lớn từ sáng 14-10, chuẩn đô đốc – phó chính ủy quân chủng hải quân Nguyễn Cộng Hòa cho rằng cầu truyền hình góp phần làm cho Trường Sa thêm gần lại với đất liền nói chung và với TP.HCM nói riêng. Theo chuẩn đô đốc, những năm qua TP.HCM luôn là địa phương đi đầu cả nước trong phong trào “Vì Trường Sa thân yêu” với nhiều hoạt động thiết thực, sâu sắc cả về vật chất lẫn tinh thần.

Theo ông Nguyễn Chí Tân – phó tổng giám đốc HTV, đây là lần đầu tiên HTV mở cầu truyền hình trực tiếp tại Trường Sa. Để đảm bảo thành công cho chương trình, HTV đã thuê hai vệ tinh (Vinasat và của Malaysia), đồng thời cử hai nhóm đặc nhiệm ra tập tác chiến trước ở các đảo Phú Quý, Phú Quốc.

Đội quân tinh nhuệ được huy động ra Trường Sa Lớn lần này hơn 60 người với khoảng 40 tấn thiết bị. Trao đổi với Tuổi Trẻ trước giờ diễn ra chương trình, NSƯT Ái Xuân nói: “45 năm ca hát, từng biểu diễn phục vụ bộ đội nhiều lần, trong đó có lần biểu diễn bằng loa pin cầm tay hồi chiến tranh biên giới 1979, nhưng đây là lần đầu tiên ra Trường Sa biểu diễn, đem lại cho tôi những cảm xúc khó tả”.

ĐÀ TRANG – MINH THÙY – QUỐC LINH

Tưởng niệm 64 chiến sĩ hi sinh tại Trường Sa

Nhân chuyến ra Trường Sa lần này, chuẩn đô đốc Nguyễn Cộng Hòa cùng đoàn công tác đã thăm kiểm tra và tặng quà các đảo Trường Sa Đông, Đá Tây… Ngoài việc động viên những người lính đảo bảo vệ vững chắc chủ quyền Tổ quốc trong bối cảnh nước ngoài thường xuyên dòm ngó hiện nay, chuẩn đô đốc nhắc đi nhắc lại chuyện “giúp dân”, nhất là giúp nước ngọt, lương thực thực phẩm cho ngư dân.

Trước đó, ngay trên vùng biển thuộc quần đảo Trường Sa, đoàn công tác đã làm lễ tưởng niệm các chiến sĩ hy sinh trong sự kiện ngày 14-3-1988 ở Trường Sa. Đọc diễn văn tưởng niệm, đại tá Đinh Gia Thật – phó chủ nhiệm chính trị quân chủng hải quân nói: “Nơi đây, 64 cán bộ chiến sĩ hải quân nhân dân VN đã anh dũng chiến đấu hi sinh, đến nay vẫn còn nhiều đồng chí đang nằm lại với biển khơi, với quần đảo quanh năm chịu nhiều giông ba bão tố. Đó là anh ùng liệt sĩ – trung tá Trần Đức Thông, phó lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146, anh hùng liệt sĩ – đại úy Vũ Phi Trừ, thuyền trưởng tàu HQ604. Đó là anh hùng liệt sĩ – thiếu úy Trần Văn Phương – phó chỉ huy trưởng đảo Gacma, trước sự tấn công của kẻ thù đã quấn lá cờ Tổ quốc quanh thân mình và động viên đồng đội: “Không được lùi bước. Phải để cho máu mình tô thắm lá cờ Tổ quốc và truyền thống vinh quang của quân chủng hải quân anh hùng”.

Đất liền luôn nối liền với Trường Sa qua những chuyến tàu vào ra đảo.

Posted in Biển & hải đảo VN | Leave a Comment »

BÃO ĐUỔI VÀ PHẬN GHE

Posted by phanbachchau on 11.10.2009

   - Khoảng 21 chiếc ghe (17 ở Lý Sơn, 4 ở Bình Châu) đã gặp bão khi đang lênh đênh trên vùng biển gần quần đảo Hoàng Sa. Mỗi ghe đều có sự chọn lựa riêng: kẻ đi trú bão, người chạy về nhà. Tất cả đều thoát chết nhưng số phận của 21 chiếc ghe lại không giống nhau khi lâm nạn bão và người.

Bốn chiếc ghe, chứa hơn 50 ngư dân của đảo Lý Sơn ra khơi vào những ngày cuối tháng 7, đầu tháng 8 âm lịch (ngày 18 – 19.9.2009), điểm đến của họ là vùng lộng Trung Sa, gần quần đảo Hoàng Sa. Bây giờ là mùa bão nhưng trong ngày xuất phát ra khơi, trời trong và đẹp. Chỉ được dăm ngày đánh bắt, cả bốn đã bị bão đuổi, cái chết cận kề.

Bất trắc

Bên cạnh đứa con gái, nét mặt ông Cương vẫn còn hiện lên vẻ căng thẳng khi kể lại chuyện vượt bão

Mất hơn một ngày đêm, ông Võ Văn Sĩ (32 tuổi) mới đưa ghe của mình đến vùng lặn. Thợ xuống biển được bốn ngày thì nghe báo bão xa. Mười bốn sinh mạng trên ghe vẫn miệt mài lặn ngụp. Làm thêm hai ngày, một chiếc tàu mà các ông cho là tàu tuần tra xuất hiện. Họ hốt hoảng bỏ chạy trong vô vọng vì ghe đánh cá chỉ chạy được khoảng 7 lý/giờ.

Nỗi lo tăng thêm khi sau lưng là bão, lỡ có bề gì sẽ không xoay xở kịp. Khi con tàu kia đuổi kịp, ông Sĩ nhớ lại, cả ghe chỉ còn biết quỳ xuống sàn và giơ hai tay lên đầu. Một người trên chiếc tàu này xách theo cây búa, gặp gì chặt nấy: dây lặn, thùng phuy đựng nước ngọt… bất kể đồ gì trong tầm búa. Số người còn lại lao vào đấm đá ngư dân bằng giày đinh và nắm tay. Xong tất cả trở về tàu sau khi lấy một số đồ ăn thức uống, thứ gì không thích, họ vứt xuống biển.

Bị đánh đau, mọi người ê ẩm nên thả neo nghỉ một buổi, dự kiến hôm sau sẽ lặn tiếp. Sáng 26.9.2009, trời mù mịt, tin bão đang đến gần với vận tốc 25km/giờ và đúng hướng ghe lặn. Ghe quáng quàng nhổ neo, hướng mũi về đất liền. Chạy được gần một ngày thì bão đến sát lưng. Sóng lớn mưa to, thêm gió trong bờ thổi ngược như đẩy ghe xa bờ hơn. Cả đêm ấy, không ai ngơi tay, gần trưa 28.9.2009, chỉ còn cách Lý Sơn khoảng 7 lý nhưng sức cùng, ghe cũng như người không thể cập bến. Tất cả thả trôi, mặc sóng gió đưa đi đâu thì đi. Những đồ vật nặng trên ghe được tận dụng kẹp hai mạn để giữ thăng bằng. Ghe bị đẩy dần xa trôi tuột về phía nam. Hai ngày hai đêm ròng rã trong bão, đến sáng 30.9.2009, khi bớt sóng ngư dân mới hay ghe đã trôi đến ngoài khơi Quy Nhơn, cách Lý Sơn 90 lý. Mọi người xốc lại, đưa ghe trở về đảo nhà. Leo lên bờ mới tin mình đã thoát chết.

“Nhờ trên”

Lặn ở khu vực Trung Sa (cách Lý Sơn 320 lý), ghe ông Nguyễn Lộc cũng bị bão rượt nguy khốn như ông Sĩ. Ngày 26.9.2009, nghe tin áp thấp ở 123 độ kinh đông, 15 con người đều chắc mẩm, bão còn ở xa nên từ từ hãy tính. Ngày hôm sau, tin bão quá lớn, đi nhanh nên ghe phải quay đầu chạy vô bờ. Nhưng, vận tốc chiếc ghe cá không nhằm nhò gì với bão số 9, chạy được 150 lý thì gặp gió thổi ngược trong bờ ra nên ghe chậm hẳn lại. Bão sau lưng, ông Lộc tính đưa ghe tấp vào đảo Bom Bay tránh nhưng rồi thôi vì biết với bão cấp 14 – 15, tránh cũng chết. Ông Lộc nói, 200 lý còn lại đến bờ dài như bất tận, lênh đênh tiếp một ngày một đêm nữa mà chỉ nhích chưa được 70 lý. Những con sóng cao hàng chục mét, mưa như trút nước ập vào hòng nhấn chìm con tàu.

Đêm 28.9.2009, chiếc ghe thứ hai này phải thả trôi về hướng nam khi không thể tiến thêm một mét nào. Vật vã đến chiều 29.9.2009, ông Lộc quyết định neo ghe sau ba ngày hai đêm vật lộn vì máy đã yếu hẳn. Điểm neo ghe cách Quy Nhơn 80 lý ngoài khơi. Thoát tâm bão nhưng mọi người vẫn hì hục tát nước, tránh sóng thêm một ngày một đêm nữa. Chiều 30, biển mới tạm yên. Nhiều ngày mặc đồ ướt, không được thay tháo, các vùng kín của mọi người sưng tấy, lở loét. Bão tan, ghe quay về Lý Sơn nhưng đến hôm nay, ai cũng bàng hoàng vì không hiểu sao mình còn sống khi ở tâm bão. “Tôi cứ nghĩ như có người trên giúp”, ông Lộc thì thầm. Người vợ ở quê mất tin chồng khóc hết nước mắt, bà chỉ tin vào phép màu, khi bão tan, từ chỗ tàu dạt, người chồng gọi điện thoại về nhà.

Lòng tin

Cặp mắt của ông Nguyễn Lộc chưa hết đỏ sau nhiều ngày trôi dạt trên biển

Hai chiếc ghe còn lại là của ông Lê Văn Cương và ông Nguyễn Văn Lộc tuy không bị trôi dạt nhưng cả hai cũng thoát lưỡi hái tử thần chỉ trong tích tắc. Giống như bạn ghe, ông Cương không muốn ghé về đảo Hoàng Sa tránh bão vì rủi ro nơi đây cũng lắm. Gặp tình huống xấu, tuy không mất mạng như khi lênh đênh trên biển nhưng bị cướp đồ đạc, tiền chuộc… sẽ đưa gia đình ông vào một bất hạnh khác.

Do đánh bắt gần nhau nên khi nghe tin bão, tối 26.9.2009, ông Cương và ông Lộc quyết định nhổ neo chạy vào bờ. Cả hai ghe chạy cùng lúc nhưng rồi máy chiếc ghe của ông Cương trở chứng, ông tụt dần lại sau so với ghe bạn. Ông Cương nhớ lại, chạy được dăm tiếng, ghe tắt máy, ai nấy mặt xanh lè. Bỏ tay lái, ông chui xuống khoang máy cùng thợ. Cả hai loay hoay một thôi, máy nổ. Mừng húm, tất cả lao đi. Nhưng lại chỉ được năm bảy tiếng nữa, máy lại tắt. Lại hồi hộp, rồi tiếp tục chạy. Cứ thế, chạy – sửa – chạy… đến mờ sáng 28.9.2009, 13 con người đã cảm giác thấy bến quê. Sóng ngút mũi tàu nước ngập lênh láng, nhưng phải cố vì đang ở trong tâm bão. Chiếc ghe nhích chậm dần, 3 rồi 2 lý/giờ. Ráng đến gần 10 giờ sáng, chiếc ghe lọt vô bến. Thoát rồi, người vợ là cô giáo mầm non và ba đứa con đội bão líu quýu ôm chồng trong nước mắt. Ghe của ông vào sau chiếc ghe bạn gần ba tiếng.

Kể lại chuyện thoát bão, ông Cương vẫn còn rùng mình. Đây là một trong hai chuyến đi biển hãi hùng nhất trong hơn 25 năm làm nghề của ông. Lần trước, vào năm 1992, ghe ông gặp bão ở Hoàng Sa, ghe chìm, người cha và hai người em chết mất xác và lần này. Ông vẫn không lý giải được tại sao mình lại thoát chết hai lần. Nếu cái máy im luôn, không biết sự thể đến đâu?

Về từ cõi chết, gần tuần nay, Lý Sơn vui như hội. Ngày nào ở các lăng, sở, dinh ở hòn đảo bão tố này đều nghi ngút khói hương và gà heo lễ tạ ơn trên. Ông Lộc nhẩm tính, phải cúng cả tuần mới hết các chỗ, nơi dân biển gửi lòng tin mỗi khi ra khơi kiếm sống. Nghèo khó thì đã rồi, nhưng đã hứa phải làm, không thể bội ước được!

bài và ảnh Doãn Khởi

Posted in Biển & hải đảo VN | Leave a Comment »

TRÚ BÃO: BỊ CƯỚP VÀ ĂN ĐÒN

Posted by phanbachchau on 11.10.2009

   Khoảng 21 chiếc ghe (17 ở Lý Sơn, 4 ở Bình Châu) đã gặp bão khi đang lênh đênh trên vùng biển gần quần đảo Hoàng Sa. Mỗi ghe đều có sự chọn lựa riêng: kẻ đi trú bão, người chạy về nhà. Tất cả đều thoát chết nhưng số phận của 21 chiếc ghe lại không giống nhau khi lâm nạn bão và người. 
Nguồn: sgtt.com.vn

Trú bão: bị cướp và ăn đòn

SGTT -

Cha con ông Lê Đủ kể lại những ngày chạy bão

Như bài trước đã nêu, bốn chiếc ghe của dân đảo Lý Sơn đã chọn cách chạy thẳng vào bờ. Còn 17 chiếc rủ nhau đi trú bão vì đánh bắt cách quần đảo Hoàng Sa, nơi có cảng trú bão, chỉ khoảng 50 hải lý. Hơn 200 con người, tuy không bị bão dập nhưng phải chịu cướp bóc và đòn thù của lính trên cảng.

Đến bị súng bắn

Ông Dương Văn Thọ (là một trong 13 ngư dân bị Trung Quốc bắt hồi tháng 6 vừa qua), nhớ lại, đêm 26.9, khi nghe tin bão, ông lệnh nhổ neo nhằm hướng đảo chạy tới, trên ghe đã đánh được hơn bốn tấn cá. Đến sáng sớm 27, ghe của ông đến cửa cảng Hữu Nhật, một cảng quân sự của hải quân Trung Quốc nằm trên quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam. Cảng này là nơi tàu bè đi ngang trú mỗi khi có bão, người Việt gọi là cảng Cần Cẩu vì nơi đây có nhiều cần cẩu. Gần như cùng lúc, 17 chiếc ghe của ngư dân Việt Nam (13 chiếc của xã An Hải, Lý Sơn; 4 chiếc của Bình Châu) đánh chung một vùng biển đều giương cờ trắng chạy đến đây.

Thấy ghe Việt Nam đến, lính đảo liền nổ súng cảnh cáo. Mấy ghe đi đầu lập tức vòng ra xa. Lúc này nhiều ghe đã gọi điện thẳng về Biên phòng tỉnh Quảng Ngãi nhờ can thiệp để ghe được vào cảng trú bão và đừng lấy đồ của ghe. Biên phòng nhận lời và dặn thêm, không lo đồ đạc, vì nguyên tắc, vào núp bão sẽ không ai lấy gì. Đoàn ghe tạm yên tâm, quay mũi về cửa cảng, nhưng đạn lại vãi ra, ghe lại cuống cuồng bỏ chạy.

Kể chuyện buổi sáng hôm đó, ông Nguyễn Phụng Lưu còn bàng hoàng, ghe của ông chạy cùng lúc với ông Thọ, lính đảo bắn choé lửa quá trời quá đất. Hai ghe đi đầu chạy dạt ra vì lo trúng đạn. Vài lần như thế, không còn ai dám mon men đến cửa cảng nữa. Tất cả neo ngoài khơi, nhìn từng đoàn ghe tàu của Trung Quốc, Hong Kong, Nhật Bản chậm rãi vô tránh bão mà buồn bực. Neo đến chiều, gió lớn thổi mạnh, sóng cao đập từng hồi, bão đang đến gần, thấy vậy ông Lưu la lớn: “Lao vô đại thôi, trúng đạn thì còn người sống người chết, ở ngoài này bão vô sẽ chết hết”. Tất cả ùn ùn lao vào cảng, ghe ông Thọ chạy vào trước, tất cả nín thinh, nhưng lần này không nghe súng nổ. Thế là thoát bão, ba ngày ba đêm trong cảng an toàn, không bị ai kiểm tra, ai nấy mừng thầm tai qua nạn khỏi.

Đi bị đánh và cướp

Sáng 30.9, biển đã bớt sóng gió, 17 chiếc ghe sửa soạn ra khơi. Bỗng dưng, trước cửa cảng xuất hiện một toán lính khoảng vài chục người, tay lăm lăm súng đạn nhảy xuống các ghe.

Lúc đó, ông Thọ bị bất ngờ vì đinh ninh ghe trú bão sẽ không bị làm khó, nên khi lính ồ ạt nhảy lên ghe, cả chục nòng AK chĩa vào, mọi người chỉ còn biết quỳ xuống, giơ hai tay lên đầu. Đi cùng toán lính là một viên sĩ quan nên không ai bị đánh đập, nhưng đồ đạc bị thu gom một cách nhanh chóng: máy Ecom (liên lạc), máy đo nước, bốn cuộn dây lặn, định vị, khoảng một tạ cá. Có lẽ do ghe ông cập ngay sát cầu cảng nên hai chiếc thuyền thúng cũng bị tước mất. Ông nài nỉ xin lại máy định vị (để biết hướng đi về) nhưng kẻ lấy không cho. Tài sản còn lại chỉ là chiếc la bàn. Xong việc, toán lính lại nhảy sang ghe khác.

Thấy các ghe trước lao xao chuyện lính lấy đồ, ông Lê Đủ liền giấu ngay máy móc xuống khoang máy, vừa kịp lúc toán lính khác nhảy lên. Hai lính đi trước, một cầm búa, một cầm dao chỉ mặt ông ý hỏi máy định vị và Ecom đâu? Ông lắc đầu, chiếc dây chuyền vàng trong cổ lòi ra, một tên lao vào vạch áo giật sợi dây đút ngay vào túi. Tên khác ra hiệu mọi người lột đồ trong túi, nguy ngập, ông Đủ lanh trí móc ra cái điện thoại xịn và số tiền còn để chúng không truy bạn ghe. Chưa yên, tên cầm búa bằm nát tám cuộn dây lặn, một số tên khuân luôn đồ ăn, thức uống xuống ca nô. Mọi thứ tạm ổn, lúc này hai tên trong toán quay lại hỏi máy móc, ông Đủ chỉ sang ghe bên cạnh nói hai ghe đi chung nên chỉ có một máy (đã bị thu). Thấy Hợp (con út ông Đủ, 15 tuổi) nhỏ bé nhất, hai lính vắt người thằng bé lên cửa và bắt đầu tra tấn. Hợp nhớ lại, giày đinh thi nhau đá vào hai mạng sườn, những cú tát nảy lửa. Đau đến ngất nhưng thằng bé nhất định không hé răng. Trước họng súng gí vào đầu, người cha bất lực nhìn con bị hành hạ. Đánh một lúc, không moi được gì, hai tên lính thả Hợp ra, sức vóc 15 tuổi chẳng thấm vào đâu với những đòn thù, thằng bé đổ gục, toán lính rút, người cha lao ra ôm đứa con, hai be sườn đỏ tấy, người mềm oặt.

Bạn ghe của ông Nguyễn Trọng Lưu đang kiểm tra lại khoang chiếc ghe, sau những ngày sóng gió trên biển

Số phận của cha con ông Lưu còn bi đát hơn, thấy lính chặn đường, ông cùng con trai tên Tâm, 19 tuổi, vội vàng nhét máy móc, điện thoại vào thùng gạo ở gầm ghe. Khi toán lính ập vào, thấy cục sạc pin điện thoại ở góc, tất cả lao vào tra tấn thuỷ thủ để tìm điện thoại. Cả hai cha con bị đánh nặng, đứa con chịu đòn không nổi, chỉ sau vài loạt đấm đá, Tâm khóc thét chạy vô lấy điện thoại từ hũ gạo ra. Nhưng, một tên lính đi theo, biết chỗ và moi ra hết đồ giấu, trận đòn tái diễn và nặng hơn đổ xuống đầu cha con ngư dân và bạn ghe vì tội “nói dối, không chịu khai”. Mắt phải Tâm đỏ rực, máu chảy ròng ròng, người cha vừa chịu đòn, nhìn đứa con trong nước mắt. Đánh xong, toán lính gom sạch đồ, cả hai chiếc radio cũng không thoát, trừ chiếc la bàn.

Cứ thế, hết chiếc này đến chiếc khác, mười bảy chiếc ghe cùng chung bi kịch, phần đông bị đánh, có người bị đánh đến ngất xỉu, máy móc, thức ăn bị cướp, thùng phuy chứa nước ngọt bị búa băm thủng, thúng bị chặt rách đít… Tính sơ, mỗi ghe mất hết đồ chừng 50 – 70 triệu đồng.

Định vị không còn, ông Thọ chọn hướng bằng la bàn, ghe theo đó mà đi, lênh đênh trên biển thêm hai ngày nữa, bến quê hiện ra. Không may mắn, ghe của ông Lưu đi lệch xuống mãi Quy Nhơn.

Ghe ông Đủ thiệt hại nhẹ nhất nên ông vẫn ra khơi thêm ít ngày nữa, chỉ khổ đứa con út quằn quại cả tuần trên ghe, Hợp bị sốt, khắp người ê ẩm vì đòn. Đến khi về nhà, đôi mắt đứa trẻ 15 tuổi còn ngơ ngác, khuôn mặt còn sưng mọng sau những ngày hãi hùng trên biển.

Ngồi quanh ngọn đèn dầu dưới nền nhà, đôi vai ông Lưu như càng thõng xuống khi kể lại những ngày đã qua. “Mình trú bão chứ có làm gì đâu mà họ đánh đập, cướp bóc tàn tệ”, ông nức nở. Mấy người bạn ghe ngồi cạnh đều lặng lẽ khóc, không một tiếng nấc mà nước mắt cứ chảy dài xuống chiếu.

bài và ảnh Doãn Khởi

Posted in Biển & hải đảo VN | Leave a Comment »

KINH HOÀNG NƠI MẮT BÃO CÙ LAO CHÀM

Posted by phanbachchau on 05.10.2009

   

Sau cơn cuồng nộ của đất trời giữa biển khơi, câu chuyện của hai thuyền viên may mắn thoát chết trở về từ một hoang đảo nhỏ của hòn đảo Cù Lao Chàm như một kỳ tích. Cũng tại đảo Cù Lao Chàm, đến bây giờ nhiều người dân vẫn chưa hết nỗi bàng hoàng, mặc dù cơn bão dữ đã tan từ mấy ngày qua.
Nguồn: vietnamnet.vn

 

42 giờ kinh hoàng

 

Mô tả ảnh.
Phần nổi lên của con tàu Thanh Minh

Mãi đến bây giờ, sau khi được lực lượng biên phòng cứu thoát từ hoang đảo Hòn Dài vào Bãi Làng và chăm sóc khoẻ mạnh, 2/8 thuyền viên trên tàu vận tải Thành Minh (Thanh Hóa) là Phạm Duy Sơn (SN 1988) và Bùi Văn Trúc (SN 1970) vẫn chưa hết bàng hoàng. Tàu của họ bị nạn tại vùng biển Cù Lao Chàm. Ngoài hai thuỷ thủ đoàn may mắn sống sót này, 6 thuỷ thủ đoàn và chiếc tàu đã bị bão dữ nhấn chìm. 

Anh Bùi Văn Trúc nhớ lại, ngày 14/9, anh và các thuỷ thủ đoàn lên tàu Thành Minh tại cảng Hải Phòng để bắt đầu chuyến hải hành vận chuyển hàng hoá chạy dọc biển vào TP.HCM. Sau khi giao hàng xong tại cảng Sài Gòn, tàu tiếp tục nhận hơn 800 tấn hàng vận chuyển ra bắc, ngày 26/9, tàu đến hải phận vùng biển Cù Lao Chàm.

 

Mô tả ảnh.
Hai thuyền viên may mắn sống sót đang dưỡng thương
tại đồn biên phòng 260, xã Tân Hiệp, TP Hội An.

Đến sáng ngày 27/9, hệ thống liên lạc nhận được tin báo bão và yêu cầu từ đất liền đưa tàu vào trú bão. Thuyền trưởng Cao Xuân Thọ quyết định cho tàu về cảng Đà Nẵng trú bão và tiếp nhiên liệu. Khi đến vùng biển Sơn Trà thì tàu gặp sự cố chết máy.

 

Tại thời điểm này, ngoài khơi vùng biển Đà Nẵng đã bắt đầu có gió trên cấp 5-6. Không thể neo đậu, thuyền trưởng phát tín hiệu cấp cứu.

 

Nhận được tín hiệu, Trung tâm tìm kiếm cứu nạn Đà Nẵng lập tức điều tàu cứu hộ SAR. Tuy nhiên, do sóng to gió lớn, tàu cứu hộ không tiếp cận được tàu Thành Minh, đành bất lực quay về.

 

Mô tả ảnh.
Gia đình các nạn nhân đang tìm kiếm xác

Kể từ đó, tàu Thành Minh bắt đầu bị sóng biển đánh trôi dạt. Mọi phương tiện cứu hộ đều bất lực trước sóng biển kèm theo gió mạnh trên cấp 7-8. Tàu Thành Minh cứ thế bị đánh trôi đến vùng biển Cù Lao Chàm.

 

Mọi nỗ lực không thay đổi được gì, con tàu bị sóng đánh bật vào bãi đá của hoang đảo Hòn Dài vào chiều 28/9 và chìm.

 

Trước khi tàu bị đánh bay vào bãi đá và bị chìm, thuyền trưởng Cao Xuân Thọ quyết định phát lệnh cho thuỷ thủ đoàn mang áo phao rời tàu nhảy xuống biển giữa nhập nhoạng tối ngày 28/9.

 

Đến bây giờ thuỷ thủ Phạm Duy Sơn vẫn  nhớ như in là lúc đó cả 8 anh em mặc áo phao trước khi tàu bị sóng đánh vào vách đá đảo Hòn Dài khi trời đã tối. Chỉ có gió gầm thét trên đầu và sóng biển đánh cao hàng chục mét. Biết không thể chống chọi lại với bão dữ nên chỉ còn trông vào sự may rủi giữa biển khơi dậy sóng.

 

Khi nhảy xuống biển, cả 8 anh em thuỷ thủ đều bị biển nuốt chửng, không “liên lạc” được với nhau. Anh Sơn không biết mình bị sóng đánh đi đâu, cho đến khi anh tỉnh lại thấy mình nằm trên bãi đá. Lúc đó trời mù mịt, gió quật tơi bời, sóng biển ầm ào đánh vào vách đá như muốn lôi anh trở lại với biển.

 

Gắng chút sức còn lại, anh Sơn bám vào đá suốt 2 ngày đêm. Rất may, đến sáng ngày 30/9, khi bão tan, Bộ đội Biên phòng đồn 276 cử lực lượng đi tìm kiếm và phát hiện anh Sơn đang kiệt sức.

 

Mô tả ảnh.
Hai thuyền viên Phạm Duy Sơn và anh Bùi Văn Trúc vẫn chưa hết bàng hoàng

Cùng may mắn như anh Sơn, thuỷ thủ Bùi Văn Trúc cũng được lực lượng tìm kiếm bộ đội biên phòng cứu khi đói lả nằm bất động trên vách đá nơi hoang đảo Hòn Dài suốt hơn 3 ngày đêm. Anh Sơn bảo: Lúc gặp nhau ở đồn biên phòng, anh em tụi tui vẫn không tin là mình còn sống.

 

“Sang ngày thứ 3, tui đói lả, cố tìm lá cây trên đảo để ăn cầm hơi. Nhưng trên hoang đảo Hòn Dài chỉ có đá. Đói, lạnh nên tui lả đi không biết bao nhiêu lần. Đến khi được Bộ đội biênphòng đưa về đồn tui vẫn không tin mình được cứu. Nếu lúc đó không được tìm thấy, chắc giờ này anh em tụi tui cũng chết vì đói, lạnh và khát rồi…” – thuỷ thủ Sơn kể trong kinh hoàng.

 

Đến sáng ngày 2/10, lực lượng cứu hộ tiếp tục tìm thấy một xác người trong một hốc đá bị sóng đánh tả tơi. Hiện lực lượng tìm kiếm đang huy động nhiều phương tiện để tiếp tục tìm kiếm số người mất tích trên đảo Cù Lao Chàm.

 

Tan tác Cù Lao Chàm

 

Đảo Cù Lao Chàm xác định là nơi tâm của bão dữ tràn qua. Nhiều người dân cả đời sinh sống nơi hòn đảo xinh đẹp này đến bây giờ vẫn chưa hết nỗi bàng hoàng, mặc dù cơn bão dữ đã tan từ mấy ngày qua.

 

“Tui không thể nào tin vào mắt mình. Mọi năm nơi đảo này bão vẫn gầm rít, quần thảo. Nhưng chưa có trận bão mô kinh khủng như ri. Gió giật, sóng biển cao hàng chục thước gầm réo cả mấy ngày liền hỏi có thứ chi mà chịu cho thấu…” – ông Lê Văn Lắm ở Bãi Làng kể lại.

 

Nhiều ngư dân cả đời từng chứng kiến những cơn cuồn phong giữa biển khơi nhưng đều lắc đầu bảo: “Chưa thấy cơn bão mô lớn như cơn bão ni. Mà bão thường tràn qua ít giờ rồi đi. Còn cơn bão ni cứ xà quần dai nhách…”.
 

Đảo Cù Lao Chàm giờ đây phủ màu úa rũ. Những thân dừa bị gió bẻ ngang nằm chỏng chơ. Con đường ven biển ở thôn Bãi Làng bị sóng đánh sập, biển đã ăn sâu vào sát những ngôi nhà tưởng an toàn bởi kè chắn cách đó hàng chục mét.

 

“Bà con tui cứ nghĩ sẽ an toàn. Bởi kè chắn phía trước được xây dựng đã qua bao nhiêu mùa bão không hề chi. Ai ngờ cơn bão ni tràn qua cuốn sạch. Chừ nước đã đến chân nhà rồi, nếu tiếp tục bão nữa, chắc biển sẽ cuốn trôi không biết chỗ mô mà ở…” – bà Lê Thị Hồng nhà ở Bãi làng đưa tay chỉ bờ kè bị sóng biển đánh sập.

 

Tại Bãi Hương, sóng biển cũng cuốn trôi hơn 150 m đường bê tông ven biển. Kinh hoàng hơn là sóng biển đã cuốn một khối san hô nặng hàng chục tấn vào giữa một căn nhà bên bờ biển.

 

Suốt dọc dài theo ven bờ biển từ Bãi Hương, Bãi Ông, Bãi Chồng…vốn là những bãi biển làm mê đắm du khách khi đến Cù Lao Chàm, giờ đây như một bãi chiến trường phủ đầy rác do sóng đánh tấp vào.

 

Phó Chủ tịch UBND xã Tân Hiệp Nguyễn Văn Trọng kể lại: Nhận được thông báo của TP. Hội An, xã đã triển khai ngay các phương án phòng tránh. Toàn bộ bà con nhân dân dọc bờ biển được di chuyển trước khi bão đổ bộ vào, nên không có người thiệt mạng.

 

Nhưng ông Trọng nói, bão dữ quá, lại kéo dài suốt hơn 1 ngày nên đã phá huỷ nhiều cơ sở hạ tầng trên đảo. Hệ thống liên lạc, nước sinh hoạt…đều bị hư hỏng nặng không thể khắc phục được. Chính vì vậy mà đời sống của bà con nhân dân trên đảo đang lâm vào cảnh khó khăn. Rất may là sau 3 ngày bão tan, biển yên, đảo mới nối lại liên lạc với đất liền qua các tàu từ đất liền cử ra giúp dân.

 

“Phải mất rất nhiều năm và rất nhiều tiền mới có thể khôi phục được hệ thống hạ tầng kỹ thuật trên xã đảo này…” – Bí thư Thành uỷ Hội An Nguyễn Sự cho biết.

 

  • Hoàng Anh Ảnh: Lê Anh Dũng

Posted in Biển & hải đảo VN | Leave a Comment »

HOÀI NIỆM CÙ LAO CHÀM

Posted by phanbachchau on 05.10.2009

 

   “Cù lao Chàm chắc đã thay đổi nhiều, nhất là sau trận bão số 9 vừa rồi. Mong Cù lao Chàm sớm trở lại xanh tươi như ngày nào tôi đặt chân lên vùng đất này”. Nguồn VnExpress.net.

 

Biển đảo trong xanh.
Màu xanh mướt như ngọc.
Du khách có thể bắt gặp những đàn cá.
Và nhiều rặng san hô.
Bãi biển trải dài.
Sao biển dạt trên bờ.
Một góc Cù Lao Chàm.
Cầu tàu.

Nguyễn Hải Vân

Posted in Biển & hải đảo VN | Leave a Comment »

CHIẾC GHE CỦA ĐỘI HOÀNG SA

Posted by bienbo on 20.09.2009

Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số chuyên đề về biển, đảo Việt Nam: Chiếc ghe của đội Hoàng Sa 

Lê Nguyễn Lưu [*]

Tên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã đi vào sử sách Việt Nam từ rất xưa, nhưng bắt đầu được nói đến khá kỹ càng vào cuối thế kỷ 17 trong tình hình chia cắt đất nước thành hai xứ Đàng Ngoài (Lê-Trịnh) và Đàng Trong (Nguyễn). Nguyên thời cổ, hai quần đảo này thuộc nước Champa, sau khi Champa thất bại thì được sáp nhập vào Đại Việt. Chúng ta biết được điều đó thông qua du ký của một số nhà buôn, nhà du hành Trung Quốc. Theo một số nhà nghiên cứu, năm 1558, chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, Vũ Thì An, Vũ Thì Trung và con cháu gốc người Champa đã giúp ông chiếm lĩnh Hoàng Sa. Sau đó, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635), thương gia Nhật Bản Araki Sôtaro lấy một bà công nữ,(1) được mang tên Việt là Nguyễn Đại Lương, tự Hiển Hùng, và trông coi việc buôn bán với nước ngoài, đã giúp chúa Sãi tổ chức một đội thuyền hàng năm ra Hoàng Sa thu vớt hàng hóa…
Cuối thế kỷ 17, có người họ Đỗ, tên Công Luận hay Công Đạo, thường gọi là Đỗ Bá, quê ở thôn Cẩm Nang, xã Thanh Mai, huyện Thanh Chương, xứ Nghệ An, đỗ Giám sinh, được bổ làm Tri huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh). Ông từ quan, giả làm lái buôn, vượt biển vào Nam xem xét núi sông, đường sá, vẽ thành bản đồ, đem về dâng lên chúa Trịnh. Chúa rất mừng, cho cất vào kho và sai ông làm sách Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, xong năm 1686.(2) Trong sách này, tác giả nói về quần đảo Hoàng Sa như sau: “Hải trung hữu nhất trường sa danh Bãi Cát Vàng, ước trường tứ bách lý, trác lập hải trung. Tự Đại Chiêm hải môn chí Sa Vinh môn, mỗi tây nam phong tác chư quốc thương bạc nội hành phiêu bạc tại thử; đông bắc phong, ngoại hành diệc phiêu bạc tại thử, tịnh giai cơ tử, hóa vật các trí kỳ xứ. Nguyễn thị mỗi niên quý đông nguyệt trì thuyền thập bát chích lai thử thủ hóa, đa đắc kim ngân, tiền tệ, súng đạn đẳng vật. Tự Đại Chiêm môn việt hải chí thử nhất nhật bán, tự Sa Kỳ môn chí thử bán nhật. Kỳ Trường Sa xứ diệc hữu đại mại”. (Giữa biển có một dải cát dài gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển. Từ cửa biển Đại Chiêm đến cửa biển Sa Vinh, mỗi lần có gió tây nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy; gió đông bắc thì thương thuyền chạy ở ngoài cũng trôi dạt ở đấy, đều cùng chết đói cả. Hàng hóa thì đều để nơi đó. Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hóa, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn… Từ cửa Đại Chiêm vượt biển đến đấy thì phải một ngày rưỡi; từ cửa Sa Kỳ đến đấy thì phải nửa ngày (?). Chỗ bãi cát dài ấy cũng có đồi mồi).(3)
Xem đó thì bấy giờ, quần đảo chỉ được gọi bằng tên Nôm dân gian là Bãi Cát Vàng, mãi về sau mới Hán hóa thành Hoàng Sa như Lê Quý Đôn ghi lại trong sách Phủ biên tạp lục vào năm 1776. Nhà bác học này mô tả: “Phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh ở gần biển, ngoài biển về phía đông bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia, hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng dài, ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy.(4) Ông cũng cho biết: “Các thuyền ngoại phiên bị bão thường đậu ở đảo này. Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng 2 nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng năm chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy…”.(5) Đội thuyền này làm nhiệm vụ đúng như sách của Đỗ Bá đã nói, cứ đến tháng 8 âm lịch thì về, vào cửa Eo (tức cửa cũ phía bắc cửa Thuận An bây giờ), lên thành Phú Xuân nộp hàng hóa và nhận bằng.
Bởi thế, một giáo sĩ người Pháp đi trên tàu Amphitrite ngang qua quần đảo này năm 1701 đã viết trong hồi ký như sau: “On appareilla avec un très bon vent et en peu de temps on s’éleva à la hauteur du Paracel. Le Paracel est in archipel qui dépend de l’Empire d’Annam [Chúng tôi nhấn mạnh-LNL]. C’est un effroyable rocher de plus de cent lieues décrié par les naufrages qu’on y a fait de tous temps. L’Amphitrite à son premier voyage de la Chine pensa y périr”.(6) (Người ta giương buồm chạy theo một luồng gió rất thuận, và trong chốc lát, người ta đã đến tầm Hoàng Sa. Hoàng Sa là một quần đảo thuộc vương quốc Đàng Trong. Đó là một khối đá khủng khiếp hơn trăm dặm, nguyên nhân của các vụ đắm tàu thường xuyên. Trong chuyến đi đầu tiên đến Trung Quốc, tàu Amphitrite chút nữa thì cũng tan tành ở đấy).

9836
Đình làng Mỹ Lợi

Đó là những ghi chép của sử sách. Trong một dịp nghiên cứu điền dã, chúng tôi còn phát hiện được một văn bản dân gian liên quan đến sự hiện hữu của đội Hoàng Sa này vào đầu hậu bán thế kỷ 18, khi một chiếc thuyền của đội bị dạt vào vùng bờ biển giáp ranh của hai phường An Bằng và Mỹ Toàn. Phường Mỹ Toàn (nay là làng Mỹ Lợi, xã Vinh Mỹ, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế) được thành lập vào khoảng thập niên 60 của thế kỷ 16, do tám người thuộc đội quân phòng thủ mặt biển của viên trấn thủ Nguyễn Hoàng khai canh. Hiện làng còn bảo lưu được hòm bộ gần nghìn trang Hán Nôm bao quát mọi mặt từ năm 1669 đến đầu đời Tự Đức (1848-1883). Sau đây, chúng tôi xin phiên dịch một văn bản trong số đó, nội dung giải quyết vụ tranh kiện giữa hai phường về chiếc thuyền của đội Hoàng Sa do quan sở tại phê phó, hiện Nhà Bảo tàng thành phố Huế đang lưu giữ bản sao chụp. Nguyên bản hành văn lủng củng, chữ viết thảo, hơi khó đọc.
9841
Đơn trình của phường Mỹ Toàn, viết trên giấy dó, kích cỡ 38x28cm. Ảnh chụp ngày 6/8/2009.

Phiên âm
Biện Hải môn tuần quan Thuận Đức hầu kê phó Mỹ Toàn phường nghi tựu An Bằng.
Do Quý Hợi niên, Hoàng Sa đội thuyền lái Tín bị An Bằng phường tróc Mỹ Toàn phường tiếp cận nghênh niêm tựu giang tân. Chí Mậu Dần niên tiết liệu vụ thuế, thuyền thủ Trương bị tại An Bằng địa phận tái tróc Mỹ Toàn phường đồng thụ niêm nghênh các tựu chính điện. Chí tư, tàu bị tại Mỹ Toàn phường thôi An Bằng phường nghênh niêm tàu bản dữ Mỹ Toàn, do hà An Bằng cố ý bất niêm nghênh thử bản. Tư thân.
Phó Mỹ Toàn câu An Bằng phường tiền tam quán.
Tư phó.
Cảnh Hưng nhị thập niên cửu nguyệt thập cửu nhật.

9842
Bằng công nhận di tích lịch sử-văn hóa cấp quốc gia đình Mỹ Lợi.

9843
Mở hòm bộ lưu giữ tư liệu về làng Mỹ Lợi.

9844
Khảo sát tư liệu liên quan đến chiếc ghe của đội Hoàng Sa, ngày 6/8/2009.

Dịch nghĩa
Quan tuần (7) cửa Biện Hải (8) là Thuận Đức hầu phê cho phường Mỹ Toàn (9) được về phường An Bằng.(10)
Nguyên năm Quý Hợi (1743), phường An Bằng bắt phường Mỹ Toàn đón chiếc thuyền đội Hoàng Sa của lái (11) Tín ở chỗ giáp ranh, kéo về neo ở bờ sông. Qua vụ thuế tiết liệu (12) năm Mậu Dần (1758), khoản (13) của thuyền thủ (14) Trương, phường An Bằng lại bắt phường Mỹ Toàn cùng chịu, mỗi bên đem nộp tại chính điện.(15) Đến nay, phường Mỹ Toàn thúc phường An Bằng cùng phường Mỹ Toàn đem nộp vỏ tàu (thuyền), nhưng phường An Bằng cố ý không đem nộp vỏ tàu ấy. Nay trình đơn lên.
Vậy giao cho phường Mỹ Toàn bắt phường An Bằng đền tiền ba quan.(16)
Nay giao cho như vậy.
Ngày 19 tháng 9 năm Cảnh Hưng 20 (6/11/1759).
(Dấu ấn tín ký).

 

L. N. L.

Chú thích:
[*] Nhà nghiên cứu Hán Nôm, Nhà Bảo tàng thành phố Huế.

(1) Không rõ đích xác là bà nào. Chúa Sãi có bốn người con gái, cô cả Ngọc Liên gả cho Nguyễn Hữu Vinh, cô út Ngọc Đỉnh gả cho Nguyễn Cửu Kiều, còn hai cô giữa Ngọc Vạn, Ngọc Khoa thì “không rõ thân trạng”. Theo các nhà nghiên cứu, Ngọc Vạn lầy vua Champa là Chey Chetta II, còn Ngọc Khoa thì lấy Sôtaro.
(2) Theo Phạm Hán. Tạp chí Hán Nôm, số 1, 1994 và số 1, 1996.
(3) Tủ sách Viện Khảo cổ. Hồng Đức bản đồ, Bộ Quốc gia Giáo dục, Sài Gòn, 1962, tr. 94-95.
(4),(5) Lê Quý Đôn. Phủ biên tạp lục, bản dịch của Đỗ Mộng Khương, Nxb Khoa học, Hà Nội, 1964, tr. 123.
(6) J.Y.C. Mystère des Atolls, Journal de voyage aux Paracels, tuần báo Indochine, 1941, số 3.7, 10.7, 17.7.
(7) Tuần: trạm kiểm soát và thu thuế sản phẩm, hàng hóa do người, thuyền, xe chuyên chở ngang qua, đặt ở các cửa sông, cửa bể, đầu nguồn.
(8) Tên khác của cửa Tư Hiền. Cửa này, thời Champa quản lý có tên là Ô Long (không rõ tiếng Chàm như thế nào, còn Ô Long được chép trong sử ta và sử Tàu), vua Trần Anh Tông ban tên Tư Dung, thời Mạc đổi thành Tư Khách (vì húy chữ Dung); thời các chúa Nguyễn lấy lại tên Tư Dung, đến khi vua Thiệu Trị lên ngôi, ngự danh Nguyễn Phúc Dung, nên đổi thành Tư Hiền (1841).
(9) Mỹ Toàn, nguyên đọc Mỹ Tuyền, là tên phường (đơn vị tương đương xã, lập vào thời các chúa Nguyễn, trực thuộc phủ chính), ra đời vào thời chúa Nguyễn Hoàng, khoảng 1562, do tám người trong đạo quân trấn giữ vùng biển khai canh. Thời thuộc Trịnh, phường đổi tên Mỹ Đồng (không rõ lý do, theo Hoàng Xuân Hãn là kiêng húy Trịnh Toàn, vị Tiết chế của quân Trịnh), thời Nguyễn lấy lại tên Mỹ Tuyền, vua Minh Mạng bỏ phường, đặt làm ấp, năm 1841 đổi tên Mỹ Lợi, cũng vì một húy khác của vua Thiệu Trị (Nguyễn Phúc Tuyền), tất cả các chữ “tuyền” âm húy, nên đều đọc “toàn”.
(10) Phường An Bằng cũng thành lập thời chúa Nguyễn Hoàng, muộn hơn Mỹ Toàn chừng hơn mười năm, do dân đánh cá chuyên nghiệp khai canh, được Nguyễn Hoàng hỗ trợ vì họ đã làm hướng đạo, giúp ông đi đánh dẹp quân Mạc do Mạc Lập Bạo chỉ huy.
(11) Lái: người chủ, chịu trách nhiệm về chiếc thuyền, người cầm lái con thuyền.
(12) Tiết liệu: một thứ thuế người dân phải đóng cho nhà nước, để mua nhiên liệu thắp sáng (dầu, đèn, đuốc…).
(13) Khoản: tức khoản thuế, phần thuế của một người phải nạp.
(14) Thuyền thủ: người chèo thuyền, làm việc trên thuyền (bây giờ ta gọi là thuyền viên, thủy thủ).
(15) Chính điện: tức công đường của Ty Lệnh sử tại phủ chính, bấy giờ đóng tại Kim Long.
(16) Đền tiền, vì phải thuê công chuyển tải vỏ tàu, cũng như các khoản thuế trước.

TÓM TẮT
Bài viết giới thiệu một văn bản chữ Hán ra đời cách đây tròn 250 năm, hiện đang được lưu giữ tại làng Mỹ Lợi (xã Vinh Mỹ, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế), nội dung giải quyết vụ kiện tụng giữa phường Mỹ Toàn (tên cũ của làng Mỹ Lợi) và phường An Bằng (xã Vinh An, huyện Phú Vang, tỉnh TTH) về chiếc ghe của đội Hoàng Sa do quan sở tại phê phó.
Nguyên vào năm 1743, phường An Bằng bắt phường Mỹ Toàn kéo chiếc ghe của đội Hoàng Sa bị nạn trôi dạt vào bờ biển chỗ giáp ranh giữa 2 phường. Đến năm 1758, phường An Bằng cũng không chịu cùng phường Mỹ Toàn đem nộp vỏ chiếc ghe ấy. Qua năm 1759, làng Mỹ Toàn làm tờ đơn trình lên quan trấn thủ cửa Biện Hải (nay là cửa Tư Hiền, huyện Phú Lộc) phân xử. Kết quả làng An Bằng phải đền tiền thuê công vận chuyển chiếc ghe của đội Hoàng Sa và các khoản thuế khác cho phường Mỹ Toàn.
Văn bản này là một tư liệu quý, nó góp phần minh chứng cho các ghi chép trong chính sử Việt Nam về hoạt động của đội Hoàng Sa trên biển Đông ngay dưới thời các chúa Nguyễn.

ABSTRACT
THE BOAT OF NAVAL UNIT NAMED PARACELS
The article introduces a Chinese text written exactly 250 years ago that is now kept at Mỹ Lợi village (Vinh Mỹ commune, Phú Lộc district, Thừa Thiên Huế). The contents of the document is about a law suit, judged by the local mandarin, between Ward Mỹ Toàn (now Mỹ Lợi village) and Ward An Bằng (now Vinh An commune, Phú Vang district, Thừa Thiên Huế) regarding the boat of “Đội Hoàng Sa” (a naval unit named Paracels).
In 1743 Ward An Bằng requested Ward Mỹ Toàn to haul the boat of the naval unit Paracels onto land. The boat had had an accident and drifted ashore to a place right on the border between the two wards. Even upto 1758, the two wards still could not come to an agreement as to the question who was to be responsible for the return of the boat back to the Court in Huế. Then in 1759, Ward Mỹ Toàn lodged a claim to the mandarin in charge of the Biện Hải estuary (now Tư Hiền estuarry) for judgenment. The result was that Ward An Bằng had to refund the fee that Ward Mỹ Toàn had to pay for carrying the boat to a safe place.
This text is a valuable document that testifies to the facts noted down in our official history about the activities of the naval unit Paracels of Vietnam in the East Sea as early as the times of the Nguyễn Lords.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, Sở Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên – Huế, số 4 (75), 2009, 88-92.

Posted in Biển & hải đảo VN | Leave a Comment »

LỊCH SỬ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH QUẦN ĐẢO HOÀNG SA

Posted by phanbachchau on 17.09.2009

Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số chuyên đề về biển, đảo Việt Nam: Lịch sử quản lý hành chính quần đảo Hoàng Sa . Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, Sở Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên – Huế, số 4 (75), 2009, 75-83.

 

                                                                                         Nguyễn Quang Trung Tiến [*]


Trong hệ thống biển đảo Việt Nam, Hoàng Sa là quần đảo san hô gồm trên 40 đảo, đá, cồn san hô và bãi cạn (1) ở khu vực biển Đông, vị trí tọa độ xác định giữa 15o45′-17o15′ vĩ độ bắc và 111o-113o kinh độ đông, trên diện tích tự nhiên rộng khoảng 16.000km2. Điểm gần nhất của quần đảo Hoàng Sa cách đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi 123 hải lý (228km), điểm gần nhất từ quần đảo Hoàng Sa cách đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng 140 hải lý (254km).(2)
Hiện nay, quần đảo Hoàng Sa là một huyện hành chính của thành phố Đà Nẵng, cách bờ biển thành phố Đà Nẵng 170 hải lý (khoảng 315km), với diện tích toàn bộ phần nổi của quần đảo khoảng 10km2 trong tổng số 305km2 diện tích tự nhiên của huyện quản lý, chiếm khoảng 23,77% diện tích Đà Nẵng.(3)
Các tài liệu cổ của Việt Nam(4) cho biết từ thế kỷ XVII trở về trước người Việt đã gọi quần đảo này là Bãi Cát Vàng hoặc Cồn Vàng. Theo nhiều nhà nghiên cứu, tên gọi này xuất phát từ đặc điểm chung quanh các đảo, nhất là đảo Quang Hòa, bãi cát thường có màu vàng, thậm chí có thể nhìn thông suốt đến đáy các nền lòng chảo san hô và thấy cát vàng ở dưới vào những ngày biển lặng. Âm tiếng Hán của Bãi Cát Vàng được dùng nhiều về sau là Đại Trường Sa, Hoàng Sa Châu, Hoàng Sa Chử, Hoàng Sa.(5)
Trên các hải đồ quốc tế, Bãi Cát Vàng của Việt Nam được các nhà vẽ bản đồ của phương Tây ghi là Pracel, Paracel islands hay Paracels. Theo Pierre Yves Manguin, Parcel (cũng ghi là Pracel) là tiếng Bồ Đào Nha cổ, nghĩa là đá ngầm (récif) hay cao tảng (haut-font). Còn A. Brébion lại cho rằng Paracel là tên một thương thuyền Hà Lan thuộc Công ty Đông Ấn bị đắm tại quần đảo này vào thế kỷ XVII, nên người phương Tây gọi quần đảo theo tên con thuyền Paracel.(6)
Người Trung Quốc gọi quần đảo Hoàng Sa bằng nhiều tên, thay đổi một cách bất nhất và chỉ mới gần đây, họ gọi là Hsisha hay Xisha Qundao (Tây Sa).(7)
1. Các đảo, đá, cồn, bãi trong quần đảo Hoàng Sa
Quần đảo Hoàng Sa gồm hai nhóm đảo chính là Nguyệt Thiềm, An Vĩnh và các đá, cồn, bãi cạn, bãi ngầm.
Nhóm đảo Nguyệt Thiềm
Nhóm Nguyệt Thiềm còn có tên thuần Việt là Trăng Khuyết hay Lưỡi Liềm, tên tiếng Pháp (P) là Croissant groupe, tên tiếng Anh (A) là Crescent group, nằm về phía tây nam quần đảo, gần đất liền của Việt Nam, ở tọa độ 16031′ vĩ độ bắc và 111038′ kinh độ đông. Tên của nhóm này xuất phát từ vị trí các đảo nằm nối nhau như hình mặt trăng lưỡi liềm gồm 7 đảo chính là Hoàng Sa, Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Ảnh, Quang Hòa, Bạch Quỷ, Tri Tôn và các bãi ngầm cùng vô số mỏm đá.(8)
Đảo Hoàng Sa, còn có tên Île Pattle (P), Pattle Island (A) nằm ở tọa độ 16032′ vĩ độ bắc và 111036′ kinh độ đông. Đảo có hình bầu dục, dài khoảng 950m, rộng khoảng 650m, diện tích chừng 0,32km2, có vòng san hô bao quanh. Tuy không phải là đảo lớn nhất nhưng là đảo chính của quần đảo.
Đảo Hữu Nhật, còn có tên Cam Tuyền, Île Robert (P), Robert Island (A), nằm ở tọa độ 16031′ vĩ độ bắc và 111034′ kinh độ đông. Đảo có hình hơi tròn, rộng độ 0,32km2, nằm về phía nam đảo Hoàng Sa, cách 3 hải lý. Ngoài bìa đảo là một vòng san hô, có nhiều chỗ lấn hẳn vào bãi cát.
Đảo Duy Mộng, còn có tên là Île Drummond (P), Drummond Island (A), nằm ở tọa độ 16028′ vĩ độ bắc và 111044′ kinh độ đông. Đảo cao không quá 4m, hình bầu dục, diện tích khoảng 0,41km2.
Đảo Quang Ảnh, còn có tên là Île Money (P), Money Island (A), nằm ở tọa độ 16050′ vĩ độ bắc và 112020′ kinh độ đông. Đảo hình bầu dục hơi tròn, diện tích khoảng 0,5km2, cao cách mặt biển tới 6m, có lẽ cao nhất trong nhóm đảo Nguyệt Thiềm. Chung quanh đảo có nhiều đá ngầm và san hô.
Đảo Quang Hòa, còn có tên là Île Duncan (P), Duncan Island (A), nằm ở tọa độ 16027′ vĩ độ bắc và 111042′ kinh độ đông. Đảo này lớn nhất nhóm đảo Nguyệt Thiềm, diện tích gần 0,5km2. Chung quanh đảo là bãi cát màu vàng. Vòng san hô lan ra rất xa khỏi rìa đảo. Cạnh đảo lớn còn có những đảo nhỏ, nối liền nhau bằng bãi cát dài. Đảo Quang Hòa có hai phần là Quang Hòa Đông và Quang Hòa Tây.
Đảo Bạch Quy, còn có tên là Passu Keah Island (A), nằm ở tọa độ 16003′ vĩ độ bắc và 111047′ kinh độ đông. Đảo là một dải san hô, chỉ thật sự nổi hẳn lên khỏi mặt nước khi thủy triều xuống.
Đảo Tri Tôn, còn có tên là Île Triton (P), Triton Island (A), nằm ở tọa độ 15047′ vĩ độ bắc và 111012′ kinh độ đông. Đảo này toàn đá san hô, nằm gần bờ biển Việt Nam nhất so với các đảo khác của Hoàng Sa.
Nhóm đảo An Vĩnh
Nhóm An Vĩnh còn được gọi là Tuyên Đức, Amphytrite groupe (P), Amphitrite group (A), nằm ở tọa độ 16053′ vĩ độ bắc và 112017′ kinh độ đông. Nhóm đảo An Vĩnh bao gồm các đảo tương đối lớn và cao nhất trong quần đảo Hoàng Sa, và cũng là các đảo san hô lớn nhất biển Đông như đảo Phú Lâm, đảo Cây, đảo Linh Côn, đảo Trung, đảo Bắc, đảo Nam, đảo Tây, đảo Hòn Đá.
Đảo Phú Lâm, còn có tên là Île Boisée (P), Woody Island (A), nằm ở tọa độ 16050′ vĩ độ bắc và 112020′ kinh độ đông. Đây là đảo quan trọng nhất của nhóm đảo An Vĩnh, dài 1,7km, chiều ngang 1,2km, diện tích chừng 1,3km2.
Đảo Linh Côn, còn có tên là Île Lincoln (P), Lincoln Island (A), nằm ở tọa độ 16040′ vĩ độ bắc và 112044′ kinh độ đông. Đây là đảo lớn nhất của cả quần đảo Hoàng Sa, diện tích chừng 1,62km2, cao chừng 4,5m, vòng san hô bao quanh đảo kéo dài về phía nam như một con lươn có cái đầu ở Linh Côn với cái thân dài tới gần 15 hải lý.
Đảo Cây, có tên là Cù Mộc, Île Arbre (P), Tree Island (A), nằm ở tọa độ 16059′ vĩ độ bắc và 112016′ kinh độ đông.
Đảo Trung, còn gọi là đảo Giữa, Île du Milieu (P), Middle Island (A), nằm ở tọa độ 16057′ vĩ độ bắc và 112019′ kinh độ đông.
Đảo Bắc, còn có tên là Île du Nord (P), North Island (A), nằm ở tọa độ 16058′ vĩ độ bắc và 112018′ kinh độ đông.
Đảo Nam, còn có tên Île du Sud (P), South Island (A), nằm ở tọa độ 16057′ vĩ độ bắc và 112019′ kinh độ đông.
Đảo Hòn Đá, còn có tên Thạch Đảo, Île Rocheuse (P), Rocky Island (A), nằm ở tọa độ 16051′ vĩ độ bắc và 112021′ kinh độ đông.
Các đá, cồn, bãi ngầm trong quần đảo Hoàng Sa
Đá Nam, còn có tên là Cồn Cát Nam, South Sand (A), nằm ở tọa độ 16056′ vĩ độ bắc và 112020′ kinh độ đông.
Đá Tây, còn có tên là Cồn Cát Tây, West Sand (A), nằm ở tọa độ 16058′ vĩ độ bắc và 112012′ kinh độ đông.
Đá Tháp, còn có tên là Hòn Tháp, Pyramid Rock (A), nằm ở tọa độ 16034′ vĩ độ bắc và 112038′ kinh độ đông.
Bãi Addington, có tên quốc tế là Addington Patch (A), nằm ở tọa độ 15036′ vĩ độ bắc và 114025′ kinh độ đông.
Bãi ngầm Sơn Dương, còn có tên là Antelope Reef (A), nằm ở tọa độ 16028′ vĩ độ bắc và 111034′ kinh độ đông, toàn là san hô chưa nổi lên mặt nước.
Bãi Balfour, Balfour Shoal (A), nằm ở tọa độ 15027′ vĩ độ bắc và 114000′ kinh độ đông.
Bãi Vọng Các, Bankok Shoal (A), nằm ở tọa độ 16000′ vĩ độ bắc và 114005′ kinh độ đông.
Bãi Bassett, Bassett Shoal (A), nằm ở tọa độ 15027′ vĩ độ bắc và 114010′ kinh độ đông.
Đá Bông Bay, còn có tên là Cồn Bông Bay, Bombay Reef (A), nằm ở tọa độ 16002′ vĩ độ bắc và 112032′ kinh độ đông.
Bãi ngầm Bremen, Bremen Bank (A), nằm ở tọa độ 16018′ vĩ độ bắc và 112028′ kinh độ đông.
Bãi Carpenter, Carpenter Shoal (A), nằm ở tọa độ 16003′ vĩ độ bắc và 114010′ kinh độ đông.
Bãi Cathay, Cathay Shoal (A), nằm ở tọa độ 15055′ vĩ độ bắc và 113058′ kinh độ đông.
Bãi Cawston, Cawston Shoal (A), nằm ở tọa độ 15031′ vĩ độ bắc và 113046′ kinh độ đông.
Bãi Egeria, Egeria Bank (A), nằm ở tọa độ 16001′ vĩ độ bắc và 114056′ kinh độ đông.
Bãi Hand, Hand Shoal (A), nằm ở tọa độ 15059′ vĩ độ bắc và 114038′ kinh độ đông.
Bãi Hardy, Hardy Patches (A), nằm ở tọa độ 16005′ vĩ độ bắc và 114046′ kinh độ đông.
Bãi Herald, Herald Bank (A), nằm ở tọa độ 15044′ vĩ độ bắc và 112014′ kinh độ đông.
Bãi Howard, Howard Shoal (A), nằm ở tọa độ 15051′ vĩ độ bắc và 114047′ kinh độ đông.
Bãi Learmonth, Learmonth Shoal (A), nằm ở tọa độ 15042′ vĩ độ bắc và 114040′ kinh độ đông.
Bãi Xiêm La, Siamese Shoal (A), nằm ở tọa độ 15058′ vĩ độ bắc và 114004′ kinh độ đông.
Bãi Smith, Smith Shoal (A), nằm ở tọa độ 15027′ vĩ độ bắc và 114012′ kinh độ đông.
Bãi Stewart, Stewart Bank (A), nằm ở tọa độ 17020′ vĩ độ bắc và 118050′ kinh độ đông.
Đá Chim Yến, Vuladdore Reef, nằm ở tọa độ 16020′ vĩ độ Bắc và 112001′ kinh độ Đông.
Đá Lồi, còn có tên là Bãi ngầm Khám phá, Découverte (P), Discovery Reef (A), nằm ở tọa độ 16014′ vĩ độ bắc và 111041′ kinh độ đông. Đây là bãi ngầm lớn nhất trong cả quần đảo với một vòng san hô bao quanh, chiều dài tới 15 hải lý, bề ngang chừng 5 hải lý.
Bãi ngầm Bắc, North Reef (A), nằm ở tọa độ 17006′ vĩ độ bắc và 111030′ kinh độ đông.
Bãi Quan Sát, còn gọi là Cồn Quan Sát, Observation Bank (A), nằm ở tọa độ 16035′ vĩ độ bắc và 111042′ kinh độ đông.
Bãi ngầm Macclesfield, Macclesfield Bank (A), nằm ở tọa độ 15050′ vĩ độ bắc và 114020′ kinh độ đông, chỉ gồm các bãi ngầm không có đảo, chiều dài hơn 100 hải lý, rộng khoảng 60 hải lý.
Bãi ngầm Scarborough, Scarborough Shoal (A), nằm ở tọa độ 15008′ vĩ độ bắc và 117046′ kinh độ đông, bãi này nằm dưới mặt biển chừng 92 sải tay.
Những liệt kê trên đây chỉ mang giá trị tham khảo, chưa kê hết toàn bộ quần đảo.
2. Tổ chức quản lý hành chính
Trong lịch sử xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa thời phong kiến, Quảng Nam và Quảng Ngãi là những địa phương đầu tiên chịu trách nhiệm thay mặt chính quyền trung ương quản lý việc khai thác quần đảo này thông qua đội Hoàng Sa, và từ năm 1816 có thêm quân đội chính quy tham gia. Tuy nhiên, thời các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn chưa có tổ chức quản lý hành chính Hoàng Sa.
Thời Pháp thuộc, sau quãng thời gian dài ít được chính quyền thực dân chú trọng, từ năm 1930 trở đi, việc tổ chức quản lý hành chính quần đảo Hoàng Sa mới được đặt ra và diễn biến theo chiều hướng ngày càng chặt chẽ hơn.
Tiếp sau cuộc khảo sát của Viện Hải dương học Nha Trang ở quần đảo Hoàng Sa năm 1925, lực lượng hải quân Pháp lần lượt triển khai quân đội trú đóng ở một số đảo quan trọng trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào những năm 1930-1933, đồng thời xây dựng mạng lưới tổ chức quản lý hành chính trên cả hai quần đảo.
Riêng đối với quần đảo Hoàng Sa, ngày 15/6/1932 Pháp thiết lập một đại lý hành chính ở quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên, lấy tên là Đại lý hành chính Hoàng Sa (Délégation des Paracels).(9) Đại lý hành chính là đơn vị hành chính ở xa tỉnh lỵ, thường do phó Công sứ hoặc sĩ quan Pháp phụ trách, lực lượng quân đội thay mặt Công sứ cai quản. Hàng năm, viên đại diện của chính quyền Pháp ở Trung Kỳ phối hợp với quan đại diện chính quyền Trung ương Nam triều ở Huế chịu trách nhiệm ra kinh lý Hoàng Sa. Chế độ phụ cấp và kinh phí trợ cấp cho các viên chức hành chính đại diện và đi kinh lý Hoàng Sa được quy định cụ thể, trích từ ngân sách xứ Trung Kỳ.(10)

9169
Bản đồ thành phố Đà Nẵng gồm cả huyện Hoàng Sa

Với việc thiết lập Đại lý hành chính Hoàng Sa, người Pháp càng quan tâm nghiên cứu và đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở hoạt động, quản lý ở đó. Như vào năm 1937, Pháp cho nghiên cứu khả năng xây dựng một hải đăng trên đảo Hoàng Sa (Pháp gọi là Pattle) – là hòn đảo nằm trong quần đảo Hoàng Sa.
Những thay đổi trong cung cách quản lý của người Pháp đối với quần đảo Hoàng Sa càng đạt đến sự đồng bộ, khi về phía Nam triều, vào 30/3/1938 Hoàng đế Bảo Đại ký dụ cho “tháp nhập các cù lao Hoàng Sa (Archipel des Ýles Paracels) vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên; về phương diện hành chính, các cù lao ấy thuộc dưới quyền quan Tỉnh hiến tỉnh ấy”.
Tờ dụ còn nói rõ “các cù lao Hoàng Sa thuộc về chủ quyền nước Nam đã lâu đời và dưới các tiền triều, các cù lao ấy thuộc về địa hạt tỉnh Nam-Ngãi; đến đời Đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế [vua Gia Long] vẫn để y như cũ, là vì nguyên trước sự giao thông với các cù lao ấy đều do các cửa bể tỉnh Nam-Ngãi [phụ trách]. Nhờ sự tiến bộ trong việc hàng hải, nên việc giao thông ngày nay có thay đổi; vả lại viên Đại diện chính phủ Nam triều ủy phái ra kinh lý các cù lao ấy cùng quan Đại diện Chính phủ Bảo hộ có tâu rằng nên tháp các cù lao Hoàng Sa vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên thời được thuận tiện hơn”.(11)
Sau chuyển động của Nam triều, tháng 6/1938, một đơn vị lính bảo an người Việt được cử ra trấn đóng các đảo ở Hoàng Sa để quản lý. Pháp xây dựng tại đảo Hoàng Sa một hải đăng, một trạm khí tượng, một trạm vô tuyến TSF; trên đảo Phú Lâm (Pháp gọi là Boisée) cũng đặt một trạm khí tượng. Đặc biệt, một tấm bia chủ quyền được chính quyền Pháp-Nam dựng lên trên đảo Hoàng Sa, có khắc dòng chữ Pháp: République Française – Royaume d’Annam – Archipels des Paracels 1816 – Île de Pattle 1938 (Cộng hòa Pháp – Vương quốc Đại Nam – Quần đảo Hoàng Sa 1816 – Đảo Hoàng Sa 1938).
Tiếp đó, ngày 5/5/1939, Pháp quy định quản lý cụ thể hơn bằng việc thành lập hai đại lý hành chính ở quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên, là Đại lý hành chính Nguyệt Thiềm và phụ cận và Đại lý hành chính An Vĩnh và phụ cận.(12) Ranh giới giữa hai khu vực này được phân ra bởi kinh tuyến 1120 đông, trừ rặng đá ngầm Vuladdore hoàn toàn phụ thuộc vào Đại lý hành chính Nguyệt Thiềm. Những phái viên hành chính đứng đầu hai đại lý này với tư cách đại diện của Công sứ Pháp tại tỉnh Thừa Thiên đóng trụ sở tại đảo Hoàng Sa và đảo Phú Lâm. Hàng năm, mỗi phái viên được hưởng phụ cấp đại diện và kinh lý là 400 đồng Đông Dương, lấy từ ngân sách địa phương xứ Trung Kỳ.
Sau Hiệp định Genève, tiếp nối việc quản lý Hoàng Sa từ tay người Pháp, đồng thời dựa vào quy định tổ chức nền hành chính quốc gia từ vĩ tuyến 17 trở vào và việc ấn định đơn vị hành chánh tỉnh Quảng Nam;(13) ngày 13/7/1961, chính phủ Việt Nam Cộng hòa chuyển quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên đặt lại thuộc tỉnh Quảng Nam, lấy trọn quần đảo này để thành lập một đơn vị hành chính, tên là xã Định Hải, trực thuộc quận Hòa Vang.(14) Xã Định Hải được đặt dưới quyền quản lý của một phái viên hành chính.
Đặc biệt, trong xu hướng cải tổ nền hành chính cho phù hợp với sự thay đổi của tình thế ở miền Nam giai đoạn 1967-1968, vào ngày 6/2/1968 Hội đồng tỉnh Quảng Nam đã nhóm họp để đề xuất việc sáp nhập quần đảo Hoàng Sa (xã Định Hải) vào một đơn vị hành chính trên đất liền. Tiếp đó, ngày 9/8/1969, Hội đồng xã Hòa Long, quận Hòa Vang nhóm họp và đồng thuận sáp nhập xã Định Hải vào địa phương của mình. Với những bước chuẩn bị trên, Tỉnh trưởng tỉnh Quảng Nam đã làm kiến nghị và đến ngày 21/10/1969, chính phủ Việt Nam Cộng hòa sáp nhập xã Định Hải thuộc quận Hòa Vang tỉnh Quảng Nam vào xã Hòa Long cùng quận.(15) Từ đây, việc quản lý hành chính quần đảo Hoàng Sa được giao phó cho đơn vị hành chính cấp cơ sở.
Sau ngày thống nhất đất nước, do nhiều mối bận tâm cả trong đối nội lẫn đối ngoại, cộng thêm việc quần đảo Hoàng Sa bị quân đội Trung Quốc chiếm đóng hoàn toàn từ 19/1/1974, nên vấn đề quản lý hành chính tạm thời chưa được chính quyền các cấp đặt ra. Nhưng Hoàng Sa là của Việt Nam, không thể chấp nhận để mất vào tay người khác. Vì vậy, chính phủ Việt Nam một mặt liên tục khẳng định trước cộng đồng quốc tế chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam, mặt khác, ngày 9/12/1982 đã tuyên bố thành lập huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng.(16) Đây là một khẳng định có tính pháp lý quyền quản lý hành chính của Việt Nam đang bị phía Trung Quốc chiếm giữ.
Từ 1/1/1997, Đà Nẵng tách khỏi Quảng Nam, trở thành thành phố trực thuộc trung ương, huyện đảo Hoàng Sa được đặt dưới sự quản lý của chính quyền thành phố Đà Nẵng. Vì Trung Quốc chiếm giữ quần đảo Hoàng Sa, nên trụ sở của cơ quan thường trú UBND huyện Hoàng Sa được đặt tạm trong trụ sở của Sở Nội vụ, tại 132 đường Yên Bái, phường Phước Ninh, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Vấn đề chủ quyền và việc tổ chức quản lý hành chính luôn được thành phố Đà Nẵng quan tâm, nên từ năm 2004, Đề án tăng cường quản lý nhà nước đối với huyện đảo Hoàng Sa đã được triển khai. Đến năm 2008, UBND huyện Hoàng Sa bắt đầu tuyển dụng công chức hành chính. Đặc biệt, ngày 25/4/2009, UBND thành phố Đà Nẵng quyết định bổ nhiệm chính thức chức danh Chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa, do Giám đốc Sở Nội vụ Đà Nẵng kiêm giữ.
Việc tuyển dụng công chức hành chính và bổ nhiệm Chủ tịch UBND huyện Hoàng Sa trong bối cảnh hiện tại là bước đi hết sức cần thiết, đáp ứng sự mong đợi của nhân dân cả nước; đồng thời là cơ sở để thành phố Đà Nẵng xây dựng nghị quyết riêng về huyện Hoàng Sa, bổ sung ngân sách và nhân sự chuyên trách, xây dựng trụ sở hành chính huyện, đẩy mạnh hoạt động giáo dục ý thức chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa (và cả Trường Sa) cho nhân dân, và phục vụ công tác đấu tranh giành lại lãnh thổ bị xâm phạm.
Để việc tổ chức quản lý hành chính quần đảo Hoàng Sa có tác dụng thiết thực, đáp ứng kỳ vọng của nhân dân, tiếp nối ý chí quản lý Hoàng Sa liên tục của Việt Nam dù phải trải qua nhiều chế độ; thiết tưởng cần khoanh vùng một không gian hành chính và địa giới cụ thể, phiên chế khu dân cư có quy mô tương xứng, tổ chức bộ máy quản lý hành chính huyện với trụ sở riêng.
Mô hình cử đại diện chính quyền cấp tỉnh phụ trách, hoặc sáp nhập cùng một đơn vị hành chính ở đất liền để quản lý dựa vào cộng đồng địa phương, như đã từng xảy ra ở Quảng Nam năm 1969, đều là những bài học bổ ích rất đáng suy gẫm trong tổ chức quản lý hành chính huyện Hoàng Sa hiện nay.

N Q T T

Chú thích:

[*] Trưởng khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Huế.

(1) Các đảo, đá, cồn, đụn, bãi… chìm nổi theo mực nước thủy triều, nên cách tính số lượng đảo có khác nhau. Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn cuối thế kỷ XVIII mô tả quần đảo này có nhiều đảo và nhiều núi linh tinh với hơn 130 ngọn.
(2) Vũ Hữu San. Địa lý biển Đông với Hoàng Sa và Trường Sa, In lần thứ ba, Đại học Stanford, Hoa Kỳ, 2007, tr. 134.
(3) Số liệu thống kê năm 2007 của thành phố Đà Nẵng (http://www.danang.gov.vn).
(4) Như Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư do Nho sinh Đỗ Bá biên soạn ở thế kỷ XVII.
(5), (6) Theo Nguyễn Q. Thắng. Hoàng Sa, Trường Sa lãnh thổ Việt Nam nhìn từ công pháp quốc tế (tái bản), Nxb Tri thức, Thành phố Hồ Chí Minh, 2008, tr. 218- 219.
(7) Vũ Hữu San, sđd, tr. 253.
(8) Toạ độ của các đảo, đá, cồn, bãi thuộc quần đảo Hoàng Sa trong bài này đều dựa vào tài liệu của Vũ Hữu San, Sđd, tr. 353-354.
(9) Nghị định Toàn quyền Đông Dương số 156-SC ngày 15/6/1932 về việc thiết lập tổ chức hành chính ở quần đảo Hoàng Sa.
(10) Nghị định của Toàn quyền Đông Dương ngày 28/1/1934.
(11) Dụ số 10 của Hoàng đế Bảo Đại ký ngày 30/3/1938 (nhằm ngày 29 tháng 2 năm Bảo Đại thứ 13).
(12) Nghị định số 3282 do Toàn quyền Đông Dương J.Brévié ký ngày 5/5/1939.
(13) Dụ số 57- a ngày 24/10/1956 về tổ chức nền hành chính quốc gia từ vĩ tuyến 17 trở vào và Nghị định số 335-NC/P6 ngày 24/6/1958 ấn định đơn vị hành chánh tỉnh Quảng Nam của chính phủ Việt Nam Cộng hòa.
(14) Sắc lệnh số 174 – NV ngày 13/7/1961 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa.
(15) Nghị định số 709-BNV/HCĐP/26 ngày 21/10/1969 của Tổng trưởng Nội vụ Việt Nam Cộng hòa.
(16) Quyết định số 194/HĐBT ngày 9/12/1982 của Hội đồng Bộ trưởng.

TÓM TẮT
Trong lịch sử xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa thời phong kiến, Quảng Nam và Quảng Ngãi là những địa phương đầu tiên chịu trách nhiệm thay mặt chính quyền Trung ương quản lý việc khai thác, kiểm soát quần đảo này thông qua đội dân binh Hoàng Sa, và từ năm 1816 có thêm quân đội chính quy tham gia.
Đến thời Pháp thuộc, khi Trung Quốc tiến hành các hoạt động xâm phạm quần đảo Hoàng Sa, chính quyền Bảo hộ Pháp và triều đình Huế đã tổ chức lại quần đảo Hoàng Sa thành một đơn vị hành chính và sáp nhập vào tỉnh Thừa Thiên để quản lý chặt chẽ hơn. Dưới thời Việt Nam Cộng hòa, quần đảo Hoàng Sa là một đơn vị hành chính của tỉnh Quảng Nam, cho đến khi bị Trung Quốc chiếm đóng hoàn toàn vào năm 1974.
Không chấp nhận quần đảo Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc, chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam một mặt liên tục khẳng định trước cộng đồng quốc tế chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam, mặt khác, đã tuyên bố thành lập huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng vào ngày 9/12/1982, và sau khi Đà Nẵng tách khỏi Quảng Nam để trở thành thành phố trực thuộc Trung ương từ ngày 01/01/1997, huyện đảo Hoàng Sa được đặt dưới sự quản lý của chính quyền thành phố Đà Nẵng.
Qua lịch sử quản lý hành chính quần đảo Hoàng Sa, có thể thấy mô hình cử đại diện chính quyền cấp tỉnh phụ trách, hoặc sáp nhập cùng một đơn vị hành chính ở đất liền để quản lý dựa vào cộng đồng địa phương, như đã từng xảy ra ở Quảng Nam năm 1969, đều là những bài học bổ ích rất đáng suy ngẫm.

ABSTRACT
HISTORY OF ADMINISTRATIVE MANAGEMENT OF PARACELS
In the process of the establishment of the Vietnamese sovereignty over the Paracels in the feudal times, Quảng Nam and Quảng Ngãi were the first provinces to manage the exploitation of the natural resources and control on this archipelago in the name of the central government, the Court. There were even units of regular army engaged here from 1816 on.
In the times of the French colonialist government, when China carried out activities violating the Vietnamese sovereignty of the Paracels, the then part of Vietnam called French Protectorate and the Court of An Nam in Huế restructured the Paracels into an administrative unit to be merged into Thừa Thiên province for better administration. In the times of the Republic of Vietnam in the South, the Paracels is an administrative unit of Quảng Nam province.This administrative state of the archipelago lasted until its occupation in 1974 by China.
Unwilling to forfeit the their ownership of archipelago, the government of the Socialist Republic of Vietnam keep on affirming their undeniable sovereingty over the Paracels, and on the other side have issued a decree to establish the Paracels District belonging to Quảng Nam-Đà Nẵng province since 9 Dec, 1982. After Đà Nẵng was separated from Quảng Nam to become a city governed directly by the central government, the Paracels District was laid under the administration of Đà Nẵng City.
Through the history of the management of the Paracels, we can see that the admistrative structure to appoint a representative of the provincial government to take charge of the archipelago or to turn it into a local administrative unit as was done by Quảng Nam province in 1969 is a good lesson for us to study.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, Sở Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên – Huế, số 4 (75), 2009, 75-83

Posted in 1, Biển & hải đảo VN | Leave a Comment »

TỪ VỊNH BẮC BỘ ĐẾN HOÀNG SA

Posted by phanbachchau on 16.09.2009

- Chúng ta cần quan tâm về cuộc đàm phán phân định và trao đổi hợp tác ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, cần tìm hiểu thêm về sự công bằng cho đất nước và để biết rõ về những lựa chọn khó khăn và thử thách đất nước đang đối diện để đạt được sự công bằng ấy.
Nguồn:
Tuần Việt Nam. Net

Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết của nhóm tác giả Dương Danh Huy – Lê Minh Phiếu như một góc nhìn riêng để tham khảo. Bài viết này cũng đã được đọc tại Hội thảo hè tháng 8/2009.

Trong năm 2009, cuộc đàm phán phân định chủ quyền và khảo sát chung trong vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ bước sang vòng thứ  6. Cuộc đàm phán này được tiến hành lần đầu tiên vào hai ngày 18-19/1/20061, và cho tới ngày 6/1/2009 hai bên đã trải qua 5 vòng đàm phán2. Nếu vòng đàm phán thứ 6 là một bước lớn đi đến kết quả thì nó sẽ là một trong những diễn biến quan trọng nhất liên quan đến tranh chấp biển Đông.   

Vùng biển được đàm phán, theo Thứ trưởng Ngoại giao Vũ Dũng, là “đoạn từ Quảng Bình, Quảng Trị đến Huế, Đà Nẵng3. Trong khu vực này, bờ biển Việt Nam và Trung Quốc cách nhau dưới 400 hải lý. Vì vậy, chiếu theo UNCLOS, ranh giới được đàm phán là ranh giới vùng đặc quyền kinh tế.

Trong quá trình đàm phán, Việt Nam và Trung Quốc đang “từng bước thu hẹp khác biệt4, lãnh đạo hai bên “nhất trí đẩy nhanh tiến trình đàm phán”5 và đẩy nhanh việc khởi động khảo sát chung. Tuyên bố chung của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Ôn Gia Bảo ngày 25/10/2008 nói: “Hai bên tiếp tục thúc đẩy một cách vững chắc đàm phán phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và tích cực trao đổi về vấn đề hợp tác cùng phát triển, sớm khởi động khảo sát chung ở khu vực này6.

Chủ trương của Trung Quốc đối với Biển Đông nói chung là  gác vấn đề tranh chấp chủ quyền, phân định chủ quyền sang một bên và cùng các nuớc trong tranh chấp khai thác kinh tế. Ngược lại, là nước nhỏ, nhu cầu của Việt Nam là “rào dậu tốt tạo láng giềng tốt”. Vì vậy, Việt Nam đang ở trong thế muốn phân định chủ quyền một cách công bằng trong khi Trung Quốc không thật sự muốn.

Nhưng theo chúng tôi:

  • Thứ nhất, chỉ có việc phân định chủ quyền một cách công bằng, chứ không phải là khai thác chung, mới có thể là giải pháp cơ bản, lâu dài. Khai thác chung trong khi chưa phân định chủ quyền chỉ có thể là giải pháp tạm thời.
  • Thứ nhì, để khai thác chung, những vấn đề cơ bản sau cần được xác định:
    • Hợp tác khảo sát và khai thác trong vùng nào?
    • Mỗi bên gánh chịu bao nhiêu nghĩa vụ và được hưởng bao nhiêu quyền lợi trong việc khảo sát và khai thác?

Cụ thể, nếu vùng khai thác chung là vùng thuộc Việt Nam theo luật quốc tế thì việc khai thác chung không thể nào được xem là công bằng.

Nếu lý lẽ chủ quyền của hai bên có cơ sở pháp lý tương đương và vùng tranh chấp có diện tích nhỏ thì hai bên có thể chấp nhận khai thác chung, vì bất công cho một trong hai nước sẽ tương đối nhỏ7.

Nhưng nếu vùng tranh chấp có diện tích lớn và lý lẽ của một bên quá vô lý thì việc khai thác chung là một điều hoàn toàn bất công cho bên kia.

Trong khu vực từ Vịnh Bắc Bộ đến Hoàng Sa, yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền đối với Hoàng Sa là vô lý, yêu sách về các vùng biển được cho là  thuộc Hoàng Sa cũng vô lý, yêu sách về vùng biển nằm trong đường lưỡi bò càng vô lý. Bằng các yêu sách vô lý đó, Trung Quốc tranh chấp một vùng biển rất rộng lớn của Việt Nam. Việc khai thác chung trong vùng tranh chấp, nếu có, là hoàn toàn bất công cho Việt Nam.

Vì vậy, những nguyên tắc công bằng cho việc phân định vùng biển giữa hai bên vừa có ý nghĩa quan trọng cho việc xác định chủ quyền, vừa là tiền đề của việc khảo sát, khai thác chung nếu hai bên cùng mong muốn. Vì vậy, bài viết này tập trung vào các nguyên tắc để phân định chủ quyền một cách công bằng. 

 

Bản  đồ 1: Khu vực ngoài của Vịnh Bắc Bộ – một số thử thách mà Việt Nam đang đối diện trong đàm phán. 

 

 

 

Vùng biển được đàm phán, theo Thứ trưởng Ngoại giao Vũ Dũng, là “đoạn từ Quảng Bình, Quảng Trị đến Huế, Đà Nẵng3. Trong khu vực này, bờ biển Việt Nam và Trung Quốc cách nhau dưới 400 hải lý. Vì vậy, chiếu theo UNCLOS, ranh giới được đàm phán là ranh giới vùng đặc quyền kinh tế.

Trong quá trình đàm phán, Việt Nam và Trung Quốc đang “từng bước thu hẹp khác biệt4, lãnh đạo hai bên “nhất trí đẩy nhanh tiến trình đàm phán”5 và đẩy nhanh việc khởi động khảo sát chung. Tuyên bố chung của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Ôn Gia Bảo ngày 25/10/2008 nói: “Hai bên tiếp tục thúc đẩy một cách vững chắc đàm phán phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và tích cực trao đổi về vấn đề hợp tác cùng phát triển, sớm khởi động khảo sát chung ở khu vực này6.

Chủ trương của Trung Quốc đối với Biển Đông nói chung là  gác vấn đề tranh chấp chủ quyền, phân định chủ quyền sang một bên và cùng các nuớc trong tranh chấp khai thác kinh tế. Ngược lại, là nước nhỏ, nhu cầu của Việt Nam là “rào dậu tốt tạo láng giềng tốt”. Vì vậy, Việt Nam đang ở trong thế muốn phân định chủ quyền một cách công bằng trong khi Trung Quốc không thật sự muốn.

Nhưng theo chúng tôi:

  • Thứ nhất, chỉ có việc phân định chủ quyền một cách công bằng, chứ không phải là khai thác chung, mới có thể là giải pháp cơ bản, lâu dài. Khai thác chung trong khi chưa phân định chủ quyền chỉ có thể là giải pháp tạm thời.
  • Thứ nhì, để khai thác chung, những vấn đề cơ bản sau cần được xác định:
    • Hợp tác khảo sát và khai thác trong vùng nào?
    • Mỗi bên gánh chịu bao nhiêu nghĩa vụ và được hưởng bao nhiêu quyền lợi trong việc khảo sát và khai thác?

Cụ thể, nếu vùng khai thác chung là vùng thuộc Việt Nam theo luật quốc tế thì việc khai thác chung không thể nào được xem là công bằng.

Nếu lý lẽ chủ quyền của hai bên có cơ sở pháp lý tương đương và vùng tranh chấp có diện tích nhỏ thì hai bên có thể chấp nhận khai thác chung, vì bất công cho một trong hai nước sẽ tương đối nhỏ7.

Nhưng nếu vùng tranh chấp có diện tích lớn và lý lẽ của một bên quá vô lý thì việc khai thác chung là một điều hoàn toàn bất công cho bên kia.

Trong khu vực từ Vịnh Bắc Bộ đến Hoàng Sa, yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền đối với Hoàng Sa là vô lý, yêu sách về các vùng biển được cho là  thuộc Hoàng Sa cũng vô lý, yêu sách về vùng biển nằm trong đường lưỡi bò càng vô lý. Bằng các yêu sách vô lý đó, Trung Quốc tranh chấp một vùng biển rất rộng lớn của Việt Nam. Việc khai thác chung trong vùng tranh chấp, nếu có, là hoàn toàn bất công cho Việt Nam.

Vì vậy, những nguyên tắc công bằng cho việc phân định vùng biển giữa hai bên vừa có ý nghĩa quan trọng cho việc xác định chủ quyền, vừa là tiền đề của việc khảo sát, khai thác chung nếu hai bên cùng mong muốn. Vì vậy, bài viết này tập trung vào các nguyên tắc để phân định chủ quyền một cách công bằng. 
 

 

 

Việc phân định chủ quyền trong vùng biển từ Vịnh Bắc Bộ  tớI Hoàng Sa có một ý nghĩa rất quan trọng đối với việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông vì 3 lý do cơ bản sau:

  • Nó sẽ định đoạt ranh giới vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trong khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ.
  • Phương pháp phân định ranh giới này và vị trí của ranh giới từ phương pháp này có thể định hướng cho việc phân định ranh giới tiếp nối cho vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ở Biển Đông. Cụ thể, nếu Việt Nam không đạt được sự công bằng trong cuộc đàm phán này thì sự không công bằng đó có thể sẽ là tiền lệ cho nguyên tắc phân định các vùng biển khác; và có thể dẫn tới một địa điểm khởi đầu bất lợi cho ranh giới trong các vùng biển khác đó.
  • Cuộc đàm phán để phân định chủ quyền có khía cạnh liên quan tới chủ quyền đối với Hoàng Sa vốn đã bị Trung Quốc chiếm đóng và đang trong tình trạng tranh chấp.

Tuy nhiên, cuộc  đàm phán này lại phức tạp hơn những cuộc đàm phán trước đây để phân định ranh giới với với Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ, ranh giới với Thái Lan và  với Indonesia.

Đây là lần đầu tiên Việt Nam đàm phán trong một khu vực có quần đảo trong tình trạng tranh chấp chủ quyền. Không những thế, những đảo này đang bị Trung Quốc chiếm đóng.

Đây cũng là lần đầu tiên Việt Nam đàm phán với Trung Quốc để phân định một khu vực trong biển Đông, nơi Trung Quốc đòi hỏi 75% diện tích bằng “đường lưỡi bò”. Trong quá trình đàm phán, có nhiều khả năng là Trung Quốc sẽ đòi hỏi ranh giới dựa trên đường lưỡi bò. Đòi hỏi đó, vốn trái với UNCLOS, là vô lý, và cuộc đàm phán sẽ không thể nào có kết quả công bằng nếu dựa trên nó. Để có thể có một cuộc đàm phán dựa trên sự công bằng, dựa trên luật pháp quốc tế liên quan, Trung Quốc phải từ bỏ việc yêu sách đường lưỡi bò.

Điều đáng lo ngại cho cuộc đàm phán này nói riêng và cho tình hình Biển Đông nói chung là các diễn biến gần đây, ví dụ như liên quan đến việc đăng ký thềm lục địa với Liên Hiệp Quốc và việc Trung Quốc cấm đánh cá hàng năm trên nửa diện tích Biển Đông, cho thấy Trung Quốc đang leo thang trong việc thực hiện yêu sách đường lưỡi bò.

Trong trường hợp Trung Quốc không dùng đường lưỡi bò trong đàm phán nhưng đòi hỏi hiệp định ghi nhận rằng Trung Quốc bảo lưu cái gọi là “quyền lịch sử” của nước này, Việt Nam cũng cần phải thận trọng về sự “bảo lưu” này vì “quyền lịch sử” có thể được Trung Quốc dùng để ám chỉ đường lưỡi bò.

Ngoài những khía  cạnh trên, vì đường lưỡi bò hoàn toàn không có cơ sở pháp lý hay công lý, bài viết này sẽ không dùng nó trong các phân tích mà chỉ tập trung vào những nguyên tắc của luật pháp quốc tế.

Vùng biển được  đàm phán có hai phần có tính chất khác nhau: khu vực biển không thuộc Hoàng Sa, nằm phía cửa Vịnh Bắc Bộ, và khu vực biển thuộc Hoàng Sa, bao quanh quần đảo Hoàng Sa.

Cuộc đàm phán  để phân định biển chỉ có thể phân  định khu vực biển không thuộc Hoàng Sa. Khu vực biển thuộc Hoàng Sa phải thuộc về nước có chủ  quyền đối với Hoàng Sa. Vì vấn đề chủ quyền đốI vớI Hoàng Sa chưa được giải quyết, một trong những khía cạnh quan trọng của cuộc đàm phán là xác định khu vực biển nào không thuộc Hoàng Sa, khu vực nào thuộc Hoàng Sa.

Khu vực biển không thuộc Hoàng Sa

Trong khu vực biển không thuộc Hoàng Sa, bờ biển Việt Nam và bờ biển Trung Quốc đối diện nhau và có chiều dài tương đương. Vì vậy, chiếu theo các án lệ của Toà án Công lý Quốc tế và tập quán quốc tế, đường trung tuyến giữa bờ biển của hai nước sẽ là ranh giới công bằng, như phần Tây Bắc của đường đỏ trong Bản đồ 1. 

Trên thực tế, trong quá khứ Trung Quốc đã từng đòi hỏi những vùng biển vượt qua đường trung tuyến, lấn về phía Việt Nam.

Năm 2004 Trung Quốc kéo giàn khoan dầu Kantan 3 tới hoạt động tại khu vực có toạ độ 17°26′42″ Bắc, 108°19′05″ Đông, cách Việt Nam 63 hải lý và cách Trung Quốc 67 hải lý8. Vì khu vực này cách các đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa 205 hải lý (xem bản đồ 1), khu vực này không thể thuộc Hoàng Sa. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phản đối với lý do “Căn cứ vào luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982, khu vực này hoàn toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam”9. Đáp lại, Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố rằng khu vực này nằm bên Trung Quốc của vùng biển ngoài của Vịnh Bắc Bô, do đó Trung Quốc cho rằng sự phản đối của Việt Nam “không có cơ sở và không thể chấp nhận được”10.

Cho tới nay Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc đã công bố  một số lô dầu khí vượt qua đường trung tuyến, lấn về phía Việt Nam (xem Bản đồ 1). Trong những lô dầu khí này, vùng LD29-1 nằm hoàn toàn bên Việt Nam và phân nửa vùng LD20-1 nằm bên Việt Nam của đường trung tuyến.
Theo bản đồ năm 2002 của Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc thì hai vùng dầu khí này đang bị Trung Quốc khai thác. Vùng lấn sang bên Việt Nam này nằm ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, cách bờ biển đất liền của Việt Nam và đảo Hải Nam của Trung Quốc dưới 75 hải lý, cách các đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa từ 160 hải lý tới 215 hải lý.

 

 

 

Bản  đồ 2: Bản đồ của Công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc. Vào năm 2002, hai vùng dầu khí LD29-1 (nằm phía Việt Nam của đường trung tuyến) và LD20-1 (nằm vắt ngang đường trung tuyến) bắt đầu bị Trung Quốc khai thác. 

 

 

Việc Trung Quốc  đòi hỏi chủ quyền đối với một khu vực dù cách Việt Nam 63 hải lý, cách Trung Quốc 67 hải lý, bên ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, và đối với những khu vực tương tự, nói lên phần nào thử thách mà Việt Nam phải đối diện trong đàm phán.

Trong khu vực biển không thuộc Hoàng Sa, Việt Nam phải vượt qua những thử thách này để đạt được một hiệp định ranh giới biển công bằng.

Khu vực biển thuộc Hoàng Sa

Trong khu vực biển thuộc Hoàng Sa, Việt Nam và Trung Quốc có thể  dựa vào tuyên bố chủ quyền đối với Hoàng Sa để đòi hỏi những vùng nội thuỷ, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế lấn sâu vào bên kia đường trung tuyến.

Trên thực tế, ngày 15/5/1996 Trung Quốc công bố một đạo luật xác  định đường cơ sở thẳng xung quanh Hoàng Sa, đòi hỏi rằng khu vực bên trong đường cơ sở, có  diện tích 17.400 km², là nội thuỷ và khu vực 12 hải lý bên ngoài đường cơ sở đó là lãnh hải của họ11, mặc dù đường cơ sở đó vi phạm UNCLOS12. Những vùng nội thuỷ và lãnh hải này lấn sâu vào bên Việt Nam của đường trung tuyến, như trong Bản đồ 3.

Trung Quốc cũng có  thể sẽ đòi hỏi vùng đặc quyền kinh tế rộng hơn nữa và lấn sâu vào phía Việt Nam hơn nữa. Thí dụ, ngay cả trong trường hợp Trung Quốc không dùng đường lưỡi bò, họ có thể đòi hỏi tối đa rằng ranh giới vùng đặc quyền kinh tế là đường trung tuyến giữa đường cơ sở thẳng họ tuyên bố chung quanh Hoàng Sa và những vùng lãnh thổ khác của Việt Nam, như đường xanh lá cây trong Bản đồ 3. Đòi hỏi đó sẽ phi pháp và bất công vì 3 lý do:

  • Quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam. Việc Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa là bất hợp pháp.
  • Đương cơ sở thẳng Trung Quốc tuyên bố xung quanh Hoàng Sa vi phạm UNCLOS.
  • Theo tập quán quốc tế và các phán quyết của Toà án Công lý Quốc tế, các đảo nhỏ như các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa thường không được hay chỉ được ít hiệu lực trong việc phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa.   

 

 

Bản đồ 3: Trung Quốc có thể đòi hỏi một cách tối đa rằng đường xanh lá cây là ranh giới vùng đặc quyền kinh tế. Trung Quốc đã đòi hỏi rằng hình đa giác là nội thuỷ và vùng biển rộng 12 hải lý bên ngoài hinh đa giác là lãnh hải của nước này.


Nếu Việt Nam chấp nhận đòi hỏi này hay bất cứ đòi hỏi nào của Trung Quốc để lấn sang đường trung tuyến, vùng đặc quyền kinh tế mà Việt Nam được hưởng sẽ  bị thu hẹp. Thêm nữa có thể thấy từ  Bản đồ 3 rằng sự thu hẹp đó sẽ dẫn tới thiệt thòi cho Việt Nam nếu trong tương lai có đàm phán phân định các vùng biển nối tiếp về phía Nam. Ngoài ra, nếu chấp nhận như thế thì có nghĩa là Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa.Trong khả năng ngược lại, Việt Nam cũng có thể dựa vào chủ quyền đối với Hoàng Sa để đòi hỏi những vùng biển bên Trung Quốc của đường trung tuyến. 
 

Bản đồ 4: Lãnh hải 12 hải lý thuộc Hoàng Sa có thể là các hình tròn nhỏ. Đường tím là đường trung tuyến giữa các đảo Hoàng Sa và Trung Quốc. 

 

 

 

Trước tiên, Việt Nam có thể đòi hỏi lãnh hải 12 hải lý thuộc các đảo Hoàng Sa, thí dụ như trong Bản  đồ 4.

Kế tiếp, Việt Nam có thể đòi hỏi vùng đặc quyền kinh tế  cho các đảo Hoàng Sa. Trên lý thuyết, Việt Nam có thể đòi hỏi một cách tối đa rằng ranh giới vùng đặc quyền kinh tế là đường trung tuyến giữa các đảo Hoàng Sa tên mức thuỷ triều cao và đảo Hải Nam. Đòi hỏi tối đa đó sẽ không công bằng vì theo tập quán quốc tế và các phán quyết của Toà án Công lý Quốc tế, các đảo nhỏ như các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa thường không được hay chỉ được ít hiệu lực trong việc phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa.

Tuy nhiên, trong bối cảnh Trung Quốc là nước có nhiều sức mạnh và  là nước đang chiếm đóng Hoàng Sa, mặc dù việc chiếm đóng đó là bất hợp pháp chiếu theo luật quốc tế, sẽ khó xảy ra khả năng Trung Quốc chấp nhận những yêu sách của Việt Nam để lấn sang đường trung tuyến, nhất là những yêu sách về vùng đặc quyền kinh tế.

Trước thử thách này, trước khi vấn đề chủ quyền đối với Hoàng Sa được giải quyết một cách công bằng và hợp pháp, ví dụ như bởi Toà án Công lý Quốc tế, Việt Nam khó có thể đạt được sự công bằng về vùng biển thuộc Hoàng Sa.

Sự lựa chọn chính và khó khăn nhất cho Việt Nam là giữa 2 giải pháp sau:

  1. Rút lui ra khỏi đàm phán; hay:
  2. Chỉ đàm phán phân định khu vực không thuộc Hoàng Sa. Hoàng Sa và vùng biển bao quanh  Hoàng Sa tiếp tục nằm trong tình trạng tranh chấp.

Nhược điểm của giải pháp (1) nêu trên là sẽ không có ranh giới vùng đặc quyền kinh tế giữa Việt Nam và  Trung Quốc trong khu vực từ cửa Vịnh Bắc Bộ  đến Hoàng Sa.

Nhược điểm của giải pháp (2) nêu trên là, trên thực tế, Hoàng Sa và  khu vực thuộc Hoàng Sa sẽ tiếp tục nằm dưới sự kiểm soát bất hợp pháp của Trung Quốc cho đến khi nào vấn đề tranh chấp chủ quyền đối với Hoàng Sa được giải quyết một cách công bằng và hợp pháp. Và trong tương lai, chúng ta không biết được Trung Quốc có sẵn sàng chấp nhận đàm phán chủ quyền đối với Hoàng Sa và khu vực biển bao quanh Hoàng Sa hay không.

Trong trường hợp phải chọn giải pháp (2) nêu trên, Việt Nam cần phải  đòi hỏi một phạm vi cho khu vực thuộc Hoàng Sa  sao cho giảm tối thiểu thiệt hại.

Ngoài ra, có thể  chọn một giải pháp dung hoà giữa 2 giải pháp trên:

  • Đàm phán phân định vùng biển nằm gần cửa Vịnh Bắc Bộ, cách xa Hoàng Sa và chắc chắn không thuộc Hoàng Sa.
  • Không đàm phán phân định vùng biển nằm gần Hoàng Sa.
  • Không công nhận rằng vùng biển thứ nhì có thuộc Hoàng Sa hay không. Vùng biển thứ nhì sẽ tiếp tục nằm trong tình trạng tranh chấp.

Trong bất kỳ  trường hợp nào, Việt Nam không thể chấp nhận bất cứ điều nào trong hiệp định có thể  bị cho là chấp nhận yêu sách của Trung Quốc về  chủ quyền đối với Hoàng Sa.

Xác  định khu vực biển thuộc Hoàng Sa

Vì Trung Quốc là nước có nhiều sức mạnh và là nước đang chiếm đóng Hoàng Sa, trong khi vấn đề chủ  quyền đối với Hoàng Sa chưa được giải quyết, việc đòi hỏi rằng khu vực biển thuộc Hoàng Sa có  phạm vi tối đa, thí dụ như với đường cơ sở thẳng và với vùng đặc quyền kinh tế từ đường cơ sở đó ra tới trung tuyến giữa Hoàng Sa và các vùng lãnh thổ khác, đương nhiên sẽ có lợi tối đa cho Trung Quốc. Đòi hỏi đó sẽ là cớ để Trung Quốc khống chế một vùng biển có diện tích tối đa. Như vậy sẽ thiệt hại tối đa cho Việt Nam. Tuy nhiên, như đã lập luận, việc vẽ đường cơ sở thẳng xung quanh Hoàng Sa và đòi vùng đặc quyền kinh tế như trên là trái với UNCLOS và tập quán quốc tế.

Nếu Việt Nam cũng có quan điểm như Trung Quốc, tức là đòi hỏi rằng khu vực biển thuộc Hoàng Sa có phạm vi tối đa, Việt Nam sẽ bị thiệt hại trong hiện tại, và nếu trong tương lai Việt Nam giành lại được Hoàng Sa thì sẽ có nhiều lợi ích trong tương lai. Tuy nhiên, dù sao đi nữa, việc đỏi hỏi như thế sẽ không phù hợp với tập quán quốc tế và các án lệ của Toà án Công lý Quốc tế.

Nếu Việt Nam đòi hỏi rằng vùng biển thuộc Hoàng Sa có phạm vi tối thiểu, Việt Nam sẽ giảm thiệt hại trong hiện tại và chấp nhận rằng nếu trong tương lai Việt Nam giành lại được Hoàng Sa thì lợi ích cũng sẽ  giảm.

Tồn tại hai yếu tố trong việc lựa chọn phạm vi tối thiểu hay phạm vi tối đa cho khu vực biển thuộc Hoàng Sa:

  1. Sự công bằng: Theo ý kiến của các tác giả, phạm vi tối thiểu sẽ phù hợp với tập quán quốc tế hơn, phù hợp với các phán quyết của Toà án Công lý Quốc tế hơn13, và sẽ công bằng hơn, thí dụ như:
    • Không vẽ đường cơ sở thằng xung quanh quần đảo Hoàng Sa;
    • Các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa là những đảo nhỏ, xa bờ và, thêm nữa, trong tình trạng tranh chấp chủ quyền. Để tuân thủ sự công bằng mà UNCLOS quy định, các bên sẽ không trao quy chế vùng đặc quyền kinh tế cho các đảo thuộc Hoàng Sa.
    • Như vậy, khu vực biển thuộc Hoàng Sa sẽ bao gồm lãnh hải 12 hải lý, thí dụ như các vòng tròn nhỏ trong Bản đồ 4.
  2. Lợi ích quốc gia: Việc lựa chọn giữa hai phạm vi trên cũng là sự cân nhắc giữa hai khía cạnh: một mặt là Trung Quốc đang chiếm đóng Hoàng Sa và khống chế vùng biển thuộc Hoàng Sa, một mặt là khả năng Việt Nam giành lại được Hoàng Sa trong tương lai. 

Giữa phạm vi tối thiểu và phạm vi tối đa, tồn tại nhiều cách khác để xác định khu vực biển thuộc Hoàng Sa. Bên cạnh tôn trọng sự công bằng, Việt Nam phải cân nhắc phạm vi nào cho khu vực biển thuộc Hoàng Sa sẽ có lợi nhất cho Việt Nam.

Theo những nguyên tắc được Toà án Công lý Quốc tế xác  định14, cách tốt nhất để đi tới giải pháp công bằng là vẽ đường trung tuyến giữa các vùng lãnh thổ khác của Việt Nam và các vùng lãnh thổ khác của Trung Quốc, không tính quần đảo Hoàng Sa, để đi tới một ranh giới thử nghiệm cho vùng đặc quyền kinh tế. Sau đó, nếu cần thiết cho sự công bằng, ranh giới thử nghiệm này có thể được điều chỉnh như một cách để cho quần đảo Hoàng Sa một hiệu lực nào đó trong việc tính vùng đặc quyền kinh tế.

Trên thực tế, Việt Nam không thể chấp nhận việc xê dịch ranh giới thử nghiệm về phía mình, mà Trung Quốc  cũng sẽ không chấp nhận việc xê dịch đó về phía họ. Vì vậy, đường trung tuyến không tính quần đảo Hoàng Sa vừa là phạm vi tối thiểu mà Việt Nam có thể chấp nhận cho vùng đặc quyền kinh tế, vừa là phạm vi tối đa mà Việt Nam có thể thực hiện được. Theo ý kiến của các tác giả, giải pháp công bằng tối đa mà Việt Nam có thể thực hiện được là:

  • Ranh giới vùng đặc quyền kinh tế là đường trung tuyến không tính quần đảo Hoàng Sa ;
  • Các đảo Hoàng Sa phía bên kia đường trung tuyến và lãnh hải 12 hải lý của chúng thuộc về Việt Nam.

Tất nhiên Trung Quốc sẽ không chấp nhận rằng Hoàng Sa và lãnh hải 12 hải lý thuộc Hoàng Sa là của Việt Nam. Nếu Trung Quốc là nước tôn trọng sự công bằng, họ  có thể chấp nhận giải pháp trung gian sau:

  • Ranh giới vùng đặc quyền kinh tế là đường trung tuyến không tính quần đảo Hoàng Sa.
  • Các đảo Hoàng Sa và lãnh hải 12 hải lý của chúng tiếp tục nằm trong tình trạng tranh chấp.

Vì Trung Quốc  đã tuyên bố đường cơ sở thẳng và  lãnh hải xung quanh Hoàng Sa lấn sang đường trung tuyến, khả năng là Trung Quốc cũng sẽ không chấp nhận rằng ranh giới vùng đặc quyền kinh tế là đường trung tuyến. Trong trường hợp này, theo ý kiến của các tác giả, giải pháp tạm thời công bằng là:

  • Hai nước dùng đường trung tuyến không tính quần đảo Hoàng Sa như ranh giới tạm thời cho vùng đặc quyền kinh tế.
  • Các đảo Hoàng Sa và lãnh hải 12 hải lý của chúng tiếp tục nằm trong tình trạng tranh chấp.

Trong trường hợp Việt Nam và Trung Quốc không giải quyết được sự bất đồng ý kiến, theo ý kiến của các tác giả, giải pháp tạm thời công bằng là:

  • Hai nước dùng đường trung tuyến không tính quần đảo Hoàng Sa như ranh giới tạm thời cho vùng đặc quyền kinh tế. Ranh giới này sẽ được điều chỉnh lại sau khi vấn đề chủ quyền đối với Hoàng Sa và phạm vi khu vực biển thuộc Hoàng Sa được giải quyết.
  • Các đảo Hoàng Sa và lãnh hải 12 hải lý của chúng tiếp tục nằm trong tình trạng tranh chấp.

Nếu Việt Nam và  Trung Quốc có khảo sát hay khai thác chung trước khi chủ quyền được phân định, vùng hợp tác phải nằm vắt ngang đường trung tuyến này một cách đồng đều thì mới công bằng.

Trong bất kỳ  trường hợp nào, Việt Nam không thể chấp nhận bất cứ điều nào trong hiệp định có thể  bị cho là chấp nhận yêu sách của Trung Quốc về  chủ quyền đối với Hoàng Sa.

Cách vẽ đường trung tuyến

Ngay cả trong việc vẽ đường trung tuyến không tính quần đảo Hoàng Sa, có thể tồn tại sự khác biệt ý kiến giữa Việt Nam và Trung Quốc. Mỗi bên sẽ đòi hỏi cách vẽ đường trung tuyến có lợi nhất cho mình.

Một trong những cách để vẽ đường trung tuyến là vẽ đường trung tuyến giữa đường cơ sở của hai nước. Vì đường cơ sở của Việt Nam vừa nằm xa bờ hơn đường cơ sở của Trung Quốc vừa có thể không phù hợp với UNCLOS, khả năng là Trung Quốc sẽ không chấp nhận cách này.

Trung Quốc có  thể đòi hỏi vẽ đường trung tuyến giữa  đường cơ sở của nước này và bờ biển Việt Nam. Vì đường cơ sở của Trung Quốc xung quanh đảo Hải Nam có lấn ra biển ít nhiều, Việt Nam không thể chấp nhận cách này.

Cách vẽ đường trung tuyến công bằng nhất là vẽ đường trung tuyến giữa bờ biển hai nước, không tính Hoàng Sa nhưng tính các đảo gần bờ của mỗi nước. Tuy nhiên, có thể tồn tại sự khác biệt ý kiến ngay cả trong cách thứ ba này.

Nếu mũi Đà Nẵng, mũi Hải Vân, đảo Lý Sơn (diện tích 11 km², dân số 20.000)15, và cù lao Chàm (diện tích 15 km², dân số 3,000)16 của Việt Nam được dùng trong việc vẽ đường trung tuyến thì đường trung tuyến sẽ như trong Bản đồ 5.

 

 

 

Bản đồ 5: Đường trung tuyến không tính Hoàng Sa, cù lao Chàm và đảo Lý Sơn được 100% hiệu lực. 


Nếu đảo Lý  Sơn và cù lao Chàm chỉ được 50% hiệu lực trong việc vẽ trung tuyến, điều này tương đương với việc “dời” hai đảo này vào bờ 50% khoảng cách trên thực tế, thì đường trung tuyến sẽ như trong Bản đồ 6.
 

Bản đồ 6: Đường trung tuyến không tính Hoàng Sa, cù lao Chàm và đảo Lý Sơn được 50% hiệu lực. 

 

 

Theo ý kiến của các tác giả, 

  • Mũi Đà Nẵng và mũi Hải Vân hoàn toàn đáp ứng những điều kiện để được dùng trong việc vẽ đường trung tuyến.
  • Đảo Lý Sơn và cù lao Chàm hoàn toàn đáp ứng quy chế đảo theo Điều 121 của UNCLOS và nằm gần bờ Việt Nam. Hai đảo này nên được dùng để vẽ đường trung tuyến, hay phải được ít nhất là 50% hiệu lực. Lưu ý là trong hiệp định Vịnh Bắc Bộ đảo Cồn Cỏ (diện tích 2.5 km², dự kiến là tới năm 2010 sẽ đạt dân số 600)17 được hưởng 50% hiệu lực dù đảo này nhỏ hơn và có dân số thấp hơn đảo Lý Sơn và cù lao Chàm.

Vì vậy, theo ý kiến của các tác giả, trong trường hợp không tính Hoàng Sa, một ranh giới công bằng phải nằm giữa đường màu xanh và đường màu đỏ trong Bản đồ 7. 

 

 

 

Bản đồ 7: Nếu vùng biển thuộc Hoàng Sa có phạm vi tối thiểu, ranh giới công bằng phải nằm giữa đường đỏ (cù lao Chàm và đảo Lý Sơn được 100% hiệu lực) và đường xanh (cù lao Chàm và đảo Lý Sơn được 50% hiệu lực). 

 

 

Trong việc vẽ  đường trung tuyến, Trung Quốc có thể đòi hỏi không dùng mũi Đà Nẵng, mũi Hải Vân, đảo Lý Sơn, và cù lao Chàm của Việt Nam, hoặc chỉ cho những vùng lãnh thổ này ít hiệu lực. Thêm vào đó, Trung Quốc có thể đòi hỏi dùng các mũi và đảo nhỏ dọc bờ biển đảo Hải Nam, thí dụ như các mũi trong khu vực Tam Á. Những đòi hỏi như vậy nhằm đẩy ranh giới về phía Việt Nam và sẽ bất công cho Việt Nam.

Trong mọi trường hợp, Việt Nam phải đứng vững trước mọi sức  ép để có thể đạt được một ranh giới công bằng. 

Kết luận

Phân tích này cho thấy, đằng sau các tuyên bố chung của Việt Nam và  Trung Quốc, vẫn tồn tại nhiều lựa chọn khó khăn và nhiều thử thách để Việt Nam đạt được sự công bằng trong việc phân định chủ quyền và hợp tác với Trung Quốc trong vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ.

Theo ý kiến của các tác giả, sự lựa chọn khó khăn nhất cho Việt Nam là rút lui ra khỏi đàm phán hay chỉ đàm phán phân định vùng biển không thuộc Hoàng Sa hay chọn một giải pháp dung hoà. Dân tộc Việt Nam phải lựa chọn giữa các giải pháp này.

Hơn lúc nào hết, chúng ta cần quan tâm về cuộc  đàm phán phân định và trao đổi hợp tác ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, cần tìm hiểu thêm về sự công bằng cho đất nước và để biết rõ về những lựa chọn khó khăn và thử thách đất nước đang đối diện để đạt được sự công bằng ấy. Ý chí và kiến thức của mỗi người sẽ làm nên sức mạnh từ toàn dân và điều này sẽ giúp Việt Nam lựa chọn và đối phó với những thử thách nhằm bảo toàn chủ quyền của đất nước mà tiền nhân đã để lại.
 

 

  • Dương Danh Huy – Lê Minh Phiếu  (Quỹ Nghiên cứu Biển  Đông)

 

 

Vùng biển được đàm phán, theo Thứ trưởng Ngoại giao Vũ Dũng, là “đoạn từ Quảng Bình, Quảng Trị đến Huế, Đà Nẵng3. Trong khu vực này, bờ biển Việt Nam và Trung Quốc cách nhau dưới 400 hải lý. Vì vậy, chiếu theo UNCLOS, ranh giới được đàm phán là ranh giới vùng đặc quyền kinh tế.

Trong quá trình đàm phán, Việt Nam và Trung Quốc đang “từng bước thu hẹp khác biệt4, lãnh đạo hai bên “nhất trí đẩy nhanh tiến trình đàm phán”5 và đẩy nhanh việc khởi động khảo sát chung. Tuyên bố chung của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Ôn Gia Bảo ngày 25/10/2008 nói: “Hai bên tiếp tục thúc đẩy một cách vững chắc đàm phán phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và tích cực trao đổi về vấn đề hợp tác cùng phát triển, sớm khởi động khảo sát chung ở khu vực này6.

Chủ trương của Trung Quốc đối với Biển Đông nói chung là  gác vấn đề tranh chấp chủ quyền, phân định chủ quyền sang một bên và cùng các nuớc trong tranh chấp khai thác kinh tế. Ngược lại, là nước nhỏ, nhu cầu của Việt Nam là “rào dậu tốt tạo láng giềng tốt”. Vì vậy, Việt Nam đang ở trong thế muốn phân định chủ quyền một cách công bằng trong khi Trung Quốc không thật sự muốn.

Nhưng theo chúng tôi:

  • Thứ nhất, chỉ có việc phân định chủ quyền một cách công bằng, chứ không phải là khai thác chung, mới có thể là giải pháp cơ bản, lâu dài. Khai thác chung trong khi chưa phân định chủ quyền chỉ có thể là giải pháp tạm thời.
  • Thứ nhì, để khai thác chung, những vấn đề cơ bản sau cần được xác định:
    • Hợp tác khảo sát và khai thác trong vùng nào?
    • Mỗi bên gánh chịu bao nhiêu nghĩa vụ và được hưởng bao nhiêu quyền lợi trong việc khảo sát và khai thác?

Cụ thể, nếu vùng khai thác chung là vùng thuộc Việt Nam theo luật quốc tế thì việc khai thác chung không thể nào được xem là công bằng.

Nếu lý lẽ chủ quyền của hai bên có cơ sở pháp lý tương đương và vùng tranh chấp có diện tích nhỏ thì hai bên có thể chấp nhận khai thác chung, vì bất công cho một trong hai nước sẽ tương đối nhỏ7.

Nhưng nếu vùng tranh chấp có diện tích lớn và lý lẽ của một bên quá vô lý thì việc khai thác chung là một điều hoàn toàn bất công cho bên kia.

Trong khu vực từ Vịnh Bắc Bộ đến Hoàng Sa, yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền đối với Hoàng Sa là vô lý, yêu sách về các vùng biển được cho là  thuộc Hoàng Sa cũng vô lý, yêu sách về vùng biển nằm trong đường lưỡi bò càng vô lý. Bằng các yêu sách vô lý đó, Trung Quốc tranh chấp một vùng biển rất rộng lớn của Việt Nam. Việc khai thác chung trong vùng tranh chấp, nếu có, là hoàn toàn bất công cho Việt Nam.

Vì vậy, những nguyên tắc công bằng cho việc phân định vùng biển giữa hai bên vừa có ý nghĩa quan trọng cho việc xác định chủ quyền, vừa là tiền đề của việc khảo sát, khai thác chung nếu hai bên cùng mong muốn. Vì vậy, bài viết này tập trung vào các nguyên tắc để phân định chủ quyền một cách công bằng. 

Posted in Biển & hải đảo VN | Leave a Comment »

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.