BIỂN – BỜ

Diễn đàn về Cảng – Đường thuỷ – Thềm lục địa Việt Nam

SỔ TAY PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG

Posted by bienbo on 16.07.2009

 \
      DỰ ÁN THÀNH PHỐ BÊN SÔNG HỒNG
 
Tạp chí BIỂN & BỜ số tháng 3+4/2009 đã đưa tin về Lễ khởi động Dự án Phát triển GTVT Khu vực Đồng bằng Bắc Bộ, ngày 5.3.2009. Trong buổi lễ, PMUW đã giới thiệu các nội dung của “Sổ tay phòng chống tham nhũng”. Sổ tay được biên soạn nhằm mục đích hướng dẫn người sử dụng có được những hiểu biết tốt hơn về tham nhũng và làm thế nào để tránh mắc phải tham nhũng. Các doanh nghiệp có thể sử dụng Sổ tay này làm tài liệu đào tạo về phòng chống tham nhũng cho nhân viên của mình. Từ số này BIỂN & BỜ trích giới thiệu các phần của Sổ tay trên. 

LỜI NÓI ĐẦU

Tham nhũng là vấn nạn toàn cầu, trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, tham nhũng đang phá hoại, cản trở các tiến bộ xã hội, kinh tế và chính trị. Các nguồn lực công được phân chia một cách thiếu hiệu quả, các công dân trung thực và có lương tri cảm thấy nản chí, và lòng tin của dân chúng thì suy giảm. Tham nhũng nuôi dưỡng sự không trung thực trong các cơ quan công quyền, phá hoại các nguyên tắc đạo đức bằng việc ban quyền lợi cho những ai chấp nhận đưa hối lộ và kéo dài sự bất bình đẳng giữa những cá nhân trên con đường phấn đấu của họ. Cạnh tranh trong kinh doanh bị bóp méo và ngân sách Nhà nước bị hoang phí. Ở đâu khi thành công về kinh tế của các doanh nghiệp gắn liền với việc đưa hối lộ, thì chất lượng sản phẩm và dịch vụ cũng như trình độ người lao động ngày càng suy giảm. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định tham nhũng là kẻ thù nội xâm nguy hiểm, có nguy cơ đến sự tồn vong của chế độ.

Dự án Phát triển giao thông vận tải khu vực đồng bằng Bắc Bộ, với sự tài trợ của Ngân hàng Thế giới (170 triệu USD) và vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam (30 triệu USD), là một dự án phát triển cơ sở hạ tầng quan trọng trong ngành đường thủy nội địa, một trong những dự án lớn nhất từ trước tới nay cả về quy mô đầu tư và tổng mức đầu tư của ngành. Việc thực hiện dự án thành công sẽ đem lại cơ hội tăng thu nhập cho nhiều triệu người thông qua việc giảm được chi phí vận tải, tạo được công ăn việc làm, nâng cao năng suất lao động góp phần thành công vào chương trình xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống cho người dân của Chính phủ.

Việc đạt được những mục tiêu đề ra trong dự án gắn chặt hữu cơ với việc sử dụng vốn đúng mục đích, tránh lãng phí và không thất thoát. Những bài học thực tiễn gần đây cho thấy việc phòng chống tham nhũng trong các dự án phát triển hạ tầng là hết sức cần thiết, là đòi hỏi của Lãnh đạo Bộ GTVT, là yêu cầu mạnh mẽ của cán bộ nhân viên trong ngành. Theo hướng đó, dự án Phát triển giao thông vận tải khu vực đồng bằng Bắc bộ là dự án, theo yêu cầu của nhà tài trợ, phù hợp với luật pháp Việt Nam và nhất quán với quyết tâm của Bộ GTVT, cần thiết xây dựng Kế hoạch nâng cao tính minh bạch và phòng chống tham nhũng.

Việc xây dựng cuốn Sổ tay phòng chống tham nhũng này giúp các đơn vị và cá nhân liên quan đến dự án với các vị trí như đại diện chủ đầu tư, tư vấn giám sát thực hiện dự án, tư vấn kiểm toán, tư vấn giám sát thi công, nhà thầu xây lắp, nhà cung cấp thiết bị máy móc, nhà thầu tư vấn thiết kế cùng các đại diện của họ (luật sư, người được ủy quyền…v.v) có thể tránh được việc phải chịu những trách nhiệm pháp lý, thua thiệt về tài chính và mất uy tín, thương hiệu.

Cuốn Sổ tay phòng chống tham nhũng này được soạn với nhiều cố gắng nhưng chắc chắn còn có thiếu sót, và chưa thể đầy đủ. Do vậy, Sổ tay này sẽ được cập nhật thường xuyên trong suốt quá trình thực hiện dự án, dựa trên các ý kiến đóng góp phản hồi của các đơn vị và cá nhân. Cục Đường thủy nội địa Việt Nam, chủ đầu tư dự án và Ban Quản lý các dự án đường thủy, đơn vị quản lý thực thi dự án rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để cuốn Sổ tay này hoàn thiện hơn.

 

                                                                        Ban Quản lý các dự án đường thủy

 

Các tài liệu pháp lý sử dụng

 

1. Bộ Luật hình sự của nước CHXHCN Việt Nam 1989 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ Luật Hình sự 1989;

2. Luật phòng chống tham nhũng số 55/2005/QH11 ngày 29/11/2005 và Luật phòng chống tham nhũng sửa đổi số 01/2007/QH12 ngày 04/8/2007;

3. Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005;

4. Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003;

5. Luật kế toán số 03/2003/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 17/6/2003;

6. Luật Quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước số 9/2008/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 03/6/2008;

7. Các Nghị định, Thông tư hướng dẫn các Luật trên;

8. Quy chế ứng xử của cán bộ công chức Bộ Giao thông vận tải;

9. Sanctions Committee Procedures, 2007 – World Bank (http://go.worldbank.org/BL96T ARY1)

10. Report an allegation – World Bank (http://go.worldbank.org/OBUOB60810)

 

PHẦN 1: GIỚI THIỆU CHUNG SỔ TAY PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG

 

Hướng dẫn sử dụng sổ tay

 

1.1. Mục đích của cuốn Sổ tay đào tạo chống tham nhũng nhằm hướng dẫn người sử dụng có được những hiểu biết tốt hơn về tham nhũng và làm thế nào để tránh không mắc phải tham nhũng. Các cá nhân, cũng như các doanh nghiệp có thể sử dụng Sổ tay này làm tài liệu đào tạo về phòng chống tham nhũng cho các nhân viên của mình.

1) Phần 1 đưa ra các hành vi cấu thành tham nhũng, ai là người chịu trách nhiệm về tham nhũng và làm thế nào để tránh được tham nhũng.

2) Phần 2 đưa ra 48 ví dụ cụ thể về tham nhũng trong các giai đoạn thực hiện dự án.

3) Phần 3 đưa ra một số nguyên tắc đơn giản chống tham nhũng để các cá nhân có thể áp dụng (và các doanh nghiệp cũng có thể áp dụng đối với các nhân viên của mình) với mục đích bảo đảm rằng không có hành vi tham nhũng nào được thực hiện.

4) Phần 4 tư vấn cho các cá nhân và doanh nghiệp cách hành xử khi phải đối mặt với một tình huống tham nhũng.

1.2. Sổ tay này có thể được các doanh nghiệp và cá nhân sử dụng tại bất cứ nơi nào, vì các hướng dẫn và các ví dụ đưa ra là tương đối phổ biến. Tuy nhiên, cần có những tư vấn pháp lý cụ thể trong mỗi trường hợp để biết cách xử lý chính xác.

 

Mục đích đào tạo phòng chống tham nhũng

 

1.3. Tham nhũng là hiện tượng phổ biến trong các lĩnh vực Tư vấn đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng. Nó có thể xảy ra ở cả các nước phát triển và các nước đang phát triển, ở bất cứ giai đoạn nào của dự án khu vực công hoặc khu vực tư, và có thể vi phạm do nhiều cá nhân hoặc các bên tham gia dự án.

1.4. Nhiều vụ tham nhũng được thực hiện một cách chủ tâm và có kế hoạch để mưu cầu lợi ích cho cá nhân hoặc doanh nghiệp. Nhiều vụ tham nhũng được thực hiện một cách miễn cưỡng với suy nghĩ rằng cần thiết phải thực hiện để duy trì tính cạnh tranh hoặc để trả đũa đối thủ về hành vi tham nhũng của họ. Nhiều vụ tham nhũng được thực hiện với suy nghĩ sai lầm rằng những việc này là những hoạt động kinh doanh thông thường và không phạm pháp.

1.5. Nhiều cá nhân trong các lĩnh vực tư vấn đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng không thể nhận ra các trường hợp tham nhũng hoặc nếu có nhận ra, họ không thể đánh giá đúng các hậu quả do liên quan tới tham nhũng.

1.6. Điều quan trọng cần nhấn mạnh là dù có bất cứ sự bào chữa nào hay có các lý do kinh doanh cụ thể đối với tham nhũng, chúng vẫn cấu thành các hành vi phạm tội, theo đó một số người phải chịu trách nhiệm pháp lý bao gồm cá nhân người lao động thực hiện hành vi đó, người quản lý anh ta, các lãnh đạo của doanh nghiệp.

1.7. Các hậu quả khi một cá nhân hoặc tập thể liên quan đến hành vi tham nhũng, trực tiếp hoặc gián tiếp, là cực kỳ nghiêm trọng. Một cá nhân có thể bị bỏ tù. Một doanh nghiệp có thể phải đối mặt với việc suy giảm uy tín, thiệt hại tài chính hoặc bị cấm hoạt động. Ngày nay có nhiều áp lực hơn đòi hỏi các vụ tham nhũng bị phát hiện phải đưa ra truy tố, do đó không giống như trước đây, ngày nay các vụ tham nhũng có khả năng bị trừng phạt rất cao.

1.8. Sự thiệt hại do tham nhũng về tài sản và sinh mạng ngày càng được nhận thức sâu rộng, đặc biệt tại các nước đang phát triển, đưa đến quyết tâm rằng tất cả các nỗ lực phải được thực hiện để loại bỏ tham nhũng.

1.9. Bởi vậy điều cần thiết là các cá nhân và các doanh nghiệp trong các lĩnh vực tư vấn đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng đó phải có hiểu biết tốt hơn về:

1) Tham nhũng xẩy ra như thế nào trong các giai đoạn của dự án;

2) Các cá nhân và doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm hình sự và dân sự khi liên quan đến tham nhũng;

3) Thiệt hại do tham nhũng;

4) Phải làm gì khi đối diện với tham nhũng.

1.10. Không có định nghĩa chung cho toàn thế giới về tham nhũng.

1.11. Xét các mục đích của cuốn Sổ tay này, “tham nhũng” được hiểu bao gồm các hành vi sau: Tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi, lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi; giả mạo trong công tác vì vụ lợi; đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi; nhũng nhiễu vì vụ lợi; không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức quyền, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vị vụ lợi; hối lộ, tống tiền, cấu kết, rửa tiền. Những hành vi này đều cấu thành tội hình sự trong luật hình sự Việt Nam và hầu hết các bộ luật hình sự trên thế giới mặc dù định nghĩa cụ thể của các hành vi này có thể khác nhau.

 

Tham nhũng là gì?

 

Hối hộ:  

1.12. Hối lộ là một hành vi phạm tội trong luật pháp Việt Nam và tất cả các nước trên thế giới.

1.13. Trong quan hệ chung, hối lộ xẩy ra khi một người (A) trao hoặc cho một mối lợi cho người khác (B) và đó là lý do để người (B) hoặc người khác (C) có hành vi không trung thực. Trong trường hợp như vậy, tất cả những người này (A, B và C), cùng với những người khác đồng lõa trong hành vi đó, có thể phạm tội hối lộ.

1.14. Bản chất của hối lộ. Hối lộ có thể là đưa tiền mặt, hoặc có thể là một lợi ích không phải là tiền mặt (ví dụ như là một lời hứa về hợp đồng trong tương lai, hoặc một kỳ nghỉ).

1.15. Hành vi không trung thực. Hành vi không trung thực bao gồm bất kỳ hành động gian dối, chểnh mảng nào sẽ không được thực hiện nếu không được trả tiền. Hành động gian dối hoặc chểnh mảng được thực hiện liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của tổ chức/doanh nghiệp của người đó. Ví dụ, một nhân viên công vụ của một cơ quan Chính phủ, khi nhận hối lộ sẽ trao hợp đồng một cách không trung thực.

1.16. Hối hộ có tính tổ chức liên quan đến tình huống khi tiền hối lộ được đưa hoặc nhận với sự chấp thuận của tổ chức/doanh nghiệp. Điều này có thể xẩy ra, ví dụ, khi hội đồng quản trị của một doanh nghiệp ủy quyền cho giám đốc kinh doanh đưa hối lộ để thắng thầu.

1.17. Hối lộ có tính cá nhân liên quan đến tình huống khi tiền hối lộ được đưa hoặc nhận bởi người đại diện của một tổ chức/doanh nghiệp mà không có sự chấp thuận của tổ chức/doanh nghiệp đó. Điều này có thể xẩy ra, ví dụ, khi một nhân viên công vụ của một cơ quan Chính phủ nhận hối lộ để trao hợp đồng, nhưng cơ quan nơi anh ta làm việc không chấp nhận việc đưa, nhận hối lộ.

1.18. Bên đưa hối lộ là các cá nhân hoặc doanh nghiệp chịu trách nhiệm đưa hoặc chi hối lộ.

1.19. Bên nhận hối lộ là các cá nhân hoặc doanh nghiệp đưa ra yêu cầu hoặc nhận hối lộ.

1.20- “Tiền bôi trơn/tiền lót tay” là thuật ngữ thường được sử dụng liên quan đến khoản tiền nhỏ chi cho các nhân viên công vụ để có được hoặc thúc đẩy công việc mà người đưa hối lộ đang cần (ví dụ, để có được quyết định phê duyệt hoặc giấy phép nhập khẩu quan trọng). Mặc dù khoản tiền là khá nhỏ, nhưng hậu quả của việc không chi khoản tiền này có thể sẽ nghiêm trọng. (ví dụ, giấy phép nhập khẩu bị trì hoãn có thể làm trì hoãn dự án, và có thể làm tăng giá hợp đồng và dẫn đến nhà thầu phải thanh toán các thiệt hại cho chủ dự án do sự trì hoãn này). Đôi khi có sự phân biệt giữa tiền hối lộ và tiền bôi trơn. Khoản hối lộ dính dáng đến việc chi cho một người nào đó để thực hiện theo cách mà anh ta không được làm (ví dụ, khi trao hợp đồng cho bên hối lộ, hoặc miễn trừ cho doanh nghiệp khỏi trách nhiệm pháp lý) trong khi tiền bôi trơn được chi cho một người để làm việc nào đó mà anh ta đã làm (ví dụ, cấp visa hoặc thực hiện các thủ tục thông quan) hoặc để làm việc này nhanh hơn. Tuy nhiên sự khác nhau hầu như chỉ là lý thuyết. Luật hình sự Việc Nam và hầu hết các quốc gia đều buộc tội việc đưa và nhận cả tiền hối lộ cũng như tiền bôi trơn.

1.21. Các ví dụ về hối lộ. Hối lộ liên quan đến một dự án về tư vấn dự án, xây dựng, cơ sở hạ tầng có thể xẩy ra theo nhiều cách. Ví dụ :

1) Chủ đầu tư có thể đưa hối lộ một quan chức chính phủ để có được quyết định phê duyệt dự án;

2) Nhà thầu có thể đưa hối lộ cho tư vấn thiết kế của chủ đầu tư để thiết kế dự án theo cách thức mà nhà thầu sẽ có lợi thế so với các nhà thầu khác khi đấu thầu;

3) Nhà thầu có thể hối lộ đại diện của chủ đầu tư để có được hợp đồng;

4) Một nhà thầu xây dựng có thể hối lộ đại diện chủ đầu tư để hạng mục thi công có sai sót vẫn được nghiệm thu;

5) Chủ đầu tư có thể hối lộ tư vấn giám sát sự án để tư vấn trì hoãn đưa ra chứng nhận hoàn thành công việc hoặc việc gia hạn thời gian thi công đối với nhà thầu đó;

6) Nếu các bên tranh chấp liên quan đến việc thi công một dự án, một bên có thể hối lộ nhân chứng, chuyên gia thẩm định, trọng tài hoặc thẩm phán để đưa ra các bằng chứng gian lận hoặc đưa ra ý kiến hoặc phán xét có lợi cho mình.

1.22. Các ví dụ cụ thể về hối lộ được đưa ra trong phần 2 của sổ tay này.

1.23. Cơ chế hối lộ. Việc thực hiện hối lộ có thể do người đưa hối lộ đưa trực tiếp cho người nhận cuối cùng để người đó thực hiện các hành vi gian lận. Tuy nhiên, tiền hối lộ thường được đưa thông qua các trung gian. Việc làm này sẽ gây khó khăn trong việc phát hiện hành vi tham nhũng. Các hình thức phổ biến sau đây được sử dụng để che đậy hành vi tham nhũng qua việc sử dụng các hình thức trung gian :

1) Môi giới. Phương pháp trung gian thông thường nhất là môi giới. Một nhà thầu muốn che giấu hành vi hối lộ có thể chỉ định một người môi giới để liên lạc với đại diện chủ đầu tư hoặc với chính phủ của quốc gia liên quan. Nhà thầu sẽ ký một hợp đồng ủy thác với người môi giới cung cấp các dịch vụ pháp lý. Tuy nhiên, nội dung của các dịch vụ này thường giả mạo hoặc được phóng đại và giá trị thanh toán của hợp đồng vượt quá giá trị của các dịch vụ nêu trong hợp đồng. Giá trị thanh toán đôi khi được tính theo thực tế phần trăm của giá trị hợp đồng. Người môi giới thông thường sẽ nhận được tiền khi nhà thầu được trao hợp đồng. Người môi giới sau đó sẽ chuyển toàn bộ hoặc một phần tiền cho người đại diện của chủ đầu tư hoặc của chính phủ, người đã có hành vi lừa dối để nhà thầu nhận được hợp đồng;

2) Liên danh. Một liên danh quốc tế bao gồm các thành viên từ một vài quốc gia, có thể lập một hợp đồng ủy thác (nhằm che đậy một mưu đồ tham nhũng như đã nói trong phần 1 ở trên) với thành viên liên danh đăng ký hoạt động tại quốc gia ít có khả năng bị phát hiện và trừng phạt vì tham nhũng nhất;

3) Đơn vị trực thuộc hoặc các công ty con khác. Khi nhà thầu là thành viên của một tập đoàn đa quốc gia, việc chi tiền được thực hiện bởi tập đoàn dưới vỏ bọc ký một hợp đồng môi giới có tính gian lận, hoặc chuyển khoản tiền tham nhũng cho một đơn vị trực thuộc hoặc công ty con khác của tập đoàn, mà công ty đó đăng ký hoạt động tại quốc gia ít có khả năng bị phát hiện hoặc ít bị trừng phạt vì tham nhũng nhất. Đơn vị trực thuộc hoặc công ty con sau đó sẽ được nhà thầu thanh toán lại thông qua việc thanh toán nội bộ trong tập đoàn dưới hình thức các dịch vụ gian lận hoặc các dịch vụ có giá trị đã được thổi phồng lên;

4. Nhà thầu phụ. Nhà thầu có thể chuyển khoản tiền hối lộ thông qua việc ký một hợp đồng gian lận với nhà thầu phụ. Ví dụ, một nhà thầu phụ có thể gian dối kê khai các dịch vụ nào đó đã thực hiện cho nhà thầu chính để yêu cầu thanh toán. Trong thực tế, nhà thầu phụ đã không thực hiện các dịch vụ này, hoặc thực hiện với giá trị thấp hơn giá hợp đồng. Khoản tiền chênh lệch mà nhà thầu phụ chuyển tới bên liên quan chính là tiền hối lộ;

5. Với mỗi trường hợp ở trên, tiền hối lộ có thể được chi một cách có chủ tâm. Tuy vậy, vẫn có thể là khoản tiền hối lộ được chi trong tình huống khi một bên liên quan không biết về khoản hối lộ đó. Ví như:

(a) Một nhà thầu có thể không biết người môi giới có ý định sử dụng một phần tiền công của mình để đưa hối lộ;

(b) Một tập đoàn liên danh có thể không biết một thành viên trong liên danh đã đưa hối lộ để liên danh có được hợp đồng;

(c) Một nhà thầu có thể không biết rằng một chi nhánh của nó tại một quốc gia khác đang đưa hối lộ để có được hợp đồng;

(d) Một nhà thầu có thể không biết một nhà thầu phụ đã đưa tiền hối lộ cho đại diện của Chủ đầu tư để đảm bảo nhà thầu thắng thầu.

Trong các tình huống như vậy, một nhà thầu có thể thực sự không biết các hoạt động đó đang xảy ra. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp nhà thầu đã cố ý lờ đi. Trong các trường hợp khác, nhà thầu có thể nghi ngờ có hành vi tham nhũng nhưng đã không điều tra hoặc tìm cách ngăn cản việc đó. Việc nhắm mắt làm ngơ như vậy có thể bị xử lý như đã phạm tội tại Việt Nam và hầu hết các nước trên thế giới.

 

Tống tiền

 

1.24. Tống tiền là một hành vi phạm tội trong luật Việt Nam và hầu hết các nước trên thế giới.

1.25. Tống tiền là hình thức đe dọa khi một bên đe dọa bên kia về các hậu quả xấu trừ khi yêu cầu, thông thường là tiền, được bên kia đáp ứng. Việc đe dọa như vậy có thể là, ví dụ, việc từ chối thông quan cho các thiết bị và vật tư, từ chối thanh toán hoặc các chứng nhận hợp lý. Đôi khi các đe dọa như vậy có thể là đe dọa làm tổn hại sức khỏe.

1.26. Nếu nạn nhân của việc tống tiền chi tiền hoặc lợi ích khác, thông thường cũng phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi hối lộ. Tuy nhiên, bên chi tiền do bị tống tiền có thể được giảm nhẹ nếu việc đe dọa có thể ngay lập tức ảnh hưởng tới tính mạng hoặc tổn hại sức khỏe.

1.27. Các ví dụ cụ thể về hành vi tống tiền được trình bày trong Phần 2 của cuốn Sổ tay này.

 

Gian lận

 

1.28. Gian lận là một hành vi phạm tội tại Việt Nam và hầu hết các nước trên thế giới. Thỉnh thoảng nó được gọi là “Sự lừa gạt”.

1.29. Gian lận thường liên quan đến một người (hoặc một nhóm người) lừa dối một người khác để mưu lợi về tài chính hoặc các mối lợi khác.

1.30. Trong bối cảnh các dự án xây dựng, hành vi gian lận có thể bao gồm:

1) Soạn thảo hồ sơ mời thầu hoặc sơ tuyển theo hướng có lợi cho một nhà thầu nào đó;

2) Che giấu những sai sót;

3) Chi tiền không trung thực đối với các hỏng hóc;

4) Từ chối thanh toán một cách gian lận;

5) Cung cấp những căn cứ giả mạo để lập hồ sơ thanh toán, khối lượng phát sinh và gia hạn thời gian;

6) Phóng đại một cách gian lận khối lượng của hồ sơ thanh toán;

7) Bịa đặt hoặc xuyên tạc chứng cứ để giải trình cho các hồ sơ thanh toán.

1.31. Các bên phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi gian lận, khi họ cố tình thực hiện các hành vi gian lận đó. Hơn nữa, một bên có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý về gian lận nếu khinh suất, không xem xét kỹ các hành vi đó. Ví dụ, một nhà thầu có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý về việc gian lận nếu trình một hồ sơ thanh toán bổ sung mà nghi ngờ đã bị kê khống giá nhưng không thực hiện việc kiểm tra tính chính xác của hồ sơ đó.

1.32. Các ví dụ cụ thể về hành vi gian lận được trình bày trong Phần 2 của cuốn Sổ tay này.

 

Cấu kết

 

1.33. Cấu kết là một hành vi phạm tội trong luật của Việt Nam.

1.34. Điều này xảy ra khi hai hoặc nhiều hơn các bên hợp tác với nhau để gian lận hoặc lừa gạt một bên khác. Đây là một loại gian lận và thường được coi là một “Cartel”, “chống sự thật” hoặc “chống cạnh tranh”

1.35 Một ví dụ về sự cấu kết là khi các nhà thầu cấu kết để thu xếp cho một nhà thầu có được hợp đồng với giá định trước. Kiểu cấu kết này thường gọi là “quân xanh – quân đỏ”.

1.36 Các ví dụ cụ thể về cấu kết được trình bày trong Phần 2 của cuốn Sổ tay này.

 

Rửa tiền

 

1.37. Rửa tiền là một hành vi phạm tội trong luật pháp Việt Nam. Điều này xảy ra khi một bên chuyển tiền mặt hoặc tài sản có được do các hành vi phạm tội từ nơi này sang nơi khác. Ví dụ một nhà thầu trình tới Chủ đầu tư một hồ sơ thanh toán gian lận. Chủ đầu tư thanh toán tổng giá trị gian lận vào tài khoản của Nhà thầu tại Ngân hàng A, Nếu Nhà thầu sau đó chuyển khoản tiền này tới Ngân hàng B sẽ cấu thành hành vi rửa tiền. Rửa tiền thường được sử dụng để che giấu nguồn tài chính phạm pháp.

 

Mối quan hệ giữa hối lộ và gian lận

 

1.38. Hối lộ thường liên quan ở một mức độ nào đó với gian lận. Hối lộ được thực hiện để có được một dự án thường được che đậy bằng một hành vi gian lận với mục đích tỏ ra dự án có được trên cơ sở cạnh tranh trung thực.

1.39. Gian lận (như sự cấu kết trong khi bỏ thầu và trình hồ sơ gian lận) không nhất thiết liên quan tới hối lộ. Tuy nhiên, nhiều hành vi gian lận cần hối lộ để việc gian lận thành công. Ví dụ, một nhà thầu trình một hồ sơ gian lận tới Chủ đầu tư (đây là gian lận) và sau đó hối lộ chuyên viên quản lý hợp đồng để chấp thuận hồ sơ đó (đây là hối lộ). Ở trường hợp khác, chủ đầu tư mong muốn một cách gian lận từ chối thanh toán cho nhà thầu và hối lộ người chứng nhận để chứng nhận sai rằng các thiệt hại đã được đền bù hoặc chi phí cho việc sửa chữa các hạng mục sai sót là do nhà thầu thanh toán.

1.40. Mặc dù hối lộ bị dư luận xã hội phê phán gay gắt hơn, nhưng sự lãng phí về tài chính do sự thổi phồng giá gian lận trong một dự án, lại thường lớn hơn tiền hối lộ.

 

Tham nhũng là tự nguyện hay do ép buộc?

 

1.41. Trong nhiều trường hợp, tham nhũng có thể là một hành vi tự nguyện được thực hiện bởi bên liên quan với mục đích có lợi thế cạnh tranh hoặc có được sự bồi thường không hợp lý.

1.42. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khác hành vi này được thực hiện nhằm “làm bằng sân chơi”. Ví dụ, một nhà thầu cảm thấy bắt buộc phải đưa hối lộ trong quá trình bỏ thầu, nếu họ tin rằng các đối thủ cũng đưa hối lộ. Một nhà thầu cảm thấy cần thiết phải thổi giá trong dự toán nếu họ nhận thấy chủ đầu tư sẽ cắt giảm đơn giá của nhà thầu không hợp lý.

1.43. Trong nhiều trường hợp, hối lộ là do bị tống tiền. Ví dụ, một nhà thầu được thông báo rằng nếu không đưa hối lộ, họ sẽ không nhận được khoản thanh toán mà họ được hưởng.

1.44. Có nhiều vi phạm do nhận thức sai lầm cho rằng các hành vi, như việc nâng giá trong dự toán, hoặc từ chối vô lý việc thanh toán, là các hoạt động kinh doanh thông thường và không phải là hành vi phạm tội.

 

Các phạm vi khác có liên quan

 

1.45. Tham nhũng có thể là các vi phạm về luật thuế, kế toán và các quy định về thị trường cổ phiếu. Ví dụ, tiền hối lộ được nêu trong bản kê tài chính dưới hình thức là tiền thuê tư vấn các dịch vụ pháp lý sẽ tạo ra một bản kế toán gian lận do đó sẽ vi phạm các điều luật về kế toán, các quy định về thị trường cổ phiếu và các điều luật khác. Việc chiết khấu khoản tiền hối lộ để không chịu thuế là vi phạm luật thuế. Công tố viên có thể nhận thấy điều đó dễ dàng để khởi tố theo các điều luật về thuế và tài chính hơn là các điều luật về hối lộ vì các bằng chứng sẽ ít hơn, và nếu có chỉ là các chứng cứ sai lầm.

1.46. Như vậy, nhóm người có thể bị bắt trong hai hành vi ban đầu (đó là hối lộ hoặc trình hồ sơ thanh toán gian lận) là cán bộ kế hoạch và kỹ thuật công trường và với các hành vi tiếp theo là kế toán và lãnh đạo.

 

Ai phải chịu trách nhiệm về hành vi tham nhũng?

 

1.47. Tất cả các cá nhân và doanh nghiệp đều phải chịu trách nhiệm về hành vi tham nhũng. Phạm vi chính xác về trách nhiệm pháp lý sẽ phụ thuộc vào từng mức độ và thiệt hại theo luật pháp Việt Nam. Tuy nhiên, các nguyên tắc chung sau đây sẽ được áp dụng khi xét xử tại các Tòa án.

1.48 Trách nhiệm của cá nhân. Một cá nhân có thể phải chịu trách nhiệm về tham nhũng như sau:

1) Liên quan trực tiếp: Bất kỳ cá nhân nào trực tiếp liên quan đến hành vi tham nhũng sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi này.

2) Liên quan gián tiếp: Một cá nhân phải chịu trách nhiệm về hành vi tham nhũng khi anh ta liên quan một cách gián tiếp đến hành vi vi phạm. Ví dụ, một cá nhân có thể phải chịu trách nhiệm khi anh ta lợi dụng danh nghĩa người khác để hành động vì động cơ cá nhân của mình.

3) Người có quyền lực: Một công chức, như giám đốc điều hành, giám đốc, giám đốc tài chính hoặc thương mại, có thể phải chịu trách nhiệm về hành vi tham nhũng ngay cả khi anh ta không liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội, nhưng chính anh ta cho phép thực hiện việc đó, hoặc biết mà vẫn đồng ý hoặc nhắm mắt làm ngơ để việc đó xảy ra. Ví dụ, viên giám đốc điều hành nghi ngờ các nhân viên trong doanh nghiệp đưa tiền hối lộ nhưng đã không thực hiện các biện pháp cần thiết để ngăn chặn.

4) Tiếp tay làm bậy: Một cá nhân phải chịu trách nhiệm về hành vi tham nhũng nếu anh ta tiếp tay cho người khác làm những việc sai trái, thì rõ ràng, cách này hay cách khác, đã làm cho việc phạm tội được dễ dàng hơn.

1.49. Một cá nhân có thể phải chịu trách nhiệm ngay cả khi:

1) Anh ta không nhận thức được hành động đó là vi phạm pháp luật.

2) Anh ta không có lợi cá nhân từ việc thực hiện hành vi đó.

3) Bản thân anh ta không đưa hoặc nhận hối lộ, thay vào đó khoản tiền hối lộ được đưa hoặc nhận thông qua một người khác, chẳng hạn là người môi giới, qua chi nhánh, thành viên trong liên danh, bạn bè, vợ, chồng hoặc một bên thứ ba.

4) Anh ta không gian lận cá nhân, thay vào đó việc gian lận là do người khác hoặc thông qua người khác thực hiện.

5) Anh ta đã hành động theo chỉ đạo của cấp trên trong doanh nghiệp.

6) Anh ta cho rằng các việc mình làm là vì lợi ích của tập thể/doanh nghiệp

7) Có sự đe dọa về hậu quả bất lợi cho anh ta do đó anh ta phải phạm tội (trừ khi anh ta lo sợ nguy hiểm tới tính mạng ngay lập tức)

8) Việc hối lộ hay gian lận không mang lại tiền, nhưng là các mối lợi không phải tiền mặt, ví dụ, một hợp đồng trong tương lai, một học bổng du học, một kỳ nghỉ nước ngoài, đồ trang sức hoặc các quà tặng khác.

9) Người đưa hoặc nhận hối lộ đã không thực hiện theo kế hoạch mặc dù khoản tiền hối lộ đã được thỏa thuận.

10) Khoản hối lộ được hứa là sẽ đưa, nhưng thực tế đã không được đưa.

11) Khoản tiền hối lộ ít hơn những thiệt hại về tài chính có thể xảy ra nếu không đưa hối lộ.

12) Việc thực hiện hành vi vi phạm là phổ biến và được coi như bình thường trong hoạt động sản xuất kinh doanh

13) Việc vi phạm được xem là cần thiết để duy trì tính cạnh tranh

14) Việc hối lộ đã không thành công (nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm do có mưu đồ thực hiện hành vi vi phạm pháp luật)

1.50. Trách nhiệm của doanh nghiệp. Theo luật pháp Việt Nam, các doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về các hành vi phạm pháp. Các vi phạm này bao gồm:

1) Thông qua các nhân viên. Một doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước pháp luật vì hành vi tham nhũng của nhân viên (bất kể vị trí nào) trong thời gian làm việc cho doanh nghiệp. Do vậy, nếu một nhân viên cấp dưới chịu trách nhiệm chuẩn bị hồ sơ thanh toán, gửi tới doanh nghiệp khác một hồ sơ gian lận để yêu cầu thanh toán, thì doanh nghiệp (cùng với nhân viên cấp dưới) phải chịu trách nhiệm về hành vi gian lận đó. Hoặc, nếu giám đốc của doanh nghiệp quyết định đưa hối lộ để việc kinh doanh được thuận lợi, thì doanh nghiệp (cùng với giám đốc) sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi hối lộ đó.

2) Thông qua môi giới. Một doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi tham nhũng của một cá nhân mà doanh nghiệp đã chỉ định để hoạt động nhân danh mình.

3) Thông qua doanh nghiệp liên quan hoặc bên đối tác. Một doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về hành vi tham nhũng của chi nhánh của nó hoặc công ty đối tác, một đối tác trong liên danh, nhà thầu phụ hoặc nhà cung cấp, khi việc tham nhũng có thể mang lại lợi ích cho việc kinh doanh của doanh nghiệp. Trách nhiệm này xảy ra khi doanh nghiệp ủy quyền, chấp thuận, bỏ qua hoặc nhắm mắt làm ngơ trước hành vi tham nhũng.

4) “Nhắm mắt làm ngơ” xảy ra khi một cá nhân có quyền lực (một chuyên viên hoặc giám đốc một doanh nghiệp) nghi ngờ có tham nhũng liên quan tới một giao dịch kinh doanh, nhưng đã cố tình trì hoãn thực hiện các biện pháp ngăn chặn. Trong các trường hợp như vậy, nếu cả chuyên viên hoặc giám đốc thậm chí không biết bên đối tác đã đưa hối lộ để có lợi cho doanh nghiệp, tòa án vẫn có thể suy luận rằng doanh nghiệp biết việc hối lộ đã được thực hiện. Kết luận này có thể xảy ra trong trường hợp chuyên viên và giám đốc bị lừa dối. Ví dụ, khi tiền công không tương xứng với nội dung dịch vụ pháp lý mà môi giới đã thực hiện, hoặc người mối giới không có khả năng thực hiện các dịch vụ này, hoặc tiền công được trả bằng ngoại tệ vào tài khoản ngân hàng ở nước ngoài mà không có lý do hợp lý. Một hợp đồng môi giới hợp pháp cũng không ngăn cản được kết luận không có tham nhũng. Tòa án sẽ xem xét các yếu tố xung quanh và nội dung của hợp đồng đó chứ không phải chỉ là hình thức hợp đồng. Do đó, điều cực kỳ quan trọng đối với các chuyên viên và giám đốc của doanh nghiệp là thực hiện các điều tra hợp lý, nếu họ nghi ngờ có tham nhũng trong hoạt động của doanh nghiệp, và đưa ra các biện pháp để ngăn chặn tham nhũng. Nếu không, việc không hành động của họ sẽ dẫn đến doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước pháp luật (ngoài việc họ phải chịu trách nhiệm cá nhân).

1.51. Đối tượng phải chịu trách nhiệm pháp lý (cả cá nhân và doanh nghiệp). Có nhiều đối tượng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi tham nhũng. Ví dụ, nhà thầu đưa hối lộ cho nhân viên công vụ và, để che đậy việc hối lộ, nhà thầu sẽ thực hiện thông qua một nhà thầu phụ, và nhà thầu phụ sẽ ủy nhiệm lại một cá nhân để đưa hối lộ. Trong trường hợp như vậy, những đối tượng sau phải chịu trách nhiệm trước pháp luật khi họ biết hoặc cố ý làm ngơ trước hành vi tham nhũng:

1) Giám đốc và người quản lý của nhà thầu và nhà thầu phụ, những người chỉ đạo việc đưa hối lộ, hoặc là người đề ra chủ trương đưa hối lộ một cách công khai hoặc ngầm định;

2) Giám đốc và người quản lý của nhà thầu hoặc nhà thầu phụ khi họ che đậy hành vi hối lộ bằng cách thực hiện thông qua nhà thầu phụ hoặc người môi giới;

3) Giám đốc hoặc người quản lý của thầu phụ, người đã thương lượng trực tiếp việc đưa hối lộ với người môi giới;

4) Giám đốc và người quản lý của nhà thầu và thầu phụ khi họ nghi ngờ có hành vi tham nhũng nhưng đã không thực hiện các điều tra cần thiết và đề ra các bước ngăn chặn;

5) Nhân viên kế toán của nhà thầu phụ, người đã thực hiện việc đưa tiền hối lộ cho người môi giới và thanh toán tiền hối lộ với nhà thầu chính;

6) Nhân viên kế toán của nhà thầu, người đã thực hiện việc đưa tiền hối lộ cho nhà thầu phụ;

7) Luật sư, người đã soạn thảo hợp đồng môi giới hoặc các hợp đồng khác được sử dụng làm bình phong cho việc hối lộ;

8) Người môi giới, người đã trực tiếp thực hiện việc đưa hối lộ;

9) Nhân viên công vụ, người đã nhận hối lộ;

10) Nhà thầu và thầu phụ (khi họ là các doanh nghiệp) phải chịu trách nhiệm do chủ trương và vi phạm của giám đốc và người quản lý doanh nghiệp.

1.52. Hối lộ ở nước ngoài: Theo Công ước về chống hối lộ đã có hiệu lực từ năm 1999 mà Việt Nam đã tham gia, tất cả các quốc gia thông qua Công ước đã coi việc đưa và nhận hối lộ ở nước ngoài là hành vi phạm tội.

Tại sao cần phải tránh tham nhũng?

1.53 Cần phải tránh tham nhũng vì:

(a) Có thể bị truy tố trước pháp luật;

(b) Thiệt hại về tài chính;

(c) Cắn rứt lương tâm.

Thứ tự ưu tiên ở trên phụ thuộc vào từng cá nhân.

 

Khả năng truy tố hình sự

 

1.54. Rủi ro thực tế. Gần đây, khả năng bị truy tố hình sự về hành vi tham nhũng liên quan đến lĩnh vực tư vấn lập dự án đầu tư, xây dựng và cơ sở hạ tầng càng ngày càng tăng. các nhân tố tác động này bao gồm:

1) Nhận thức tăng lên. Đó là sự nâng cao nhận thức về tham nhũng và thiệt hại về kinh tế và xã hội mà tham nhũng gây ra;

2) Sức ép tăng lên. Sức ép tăng lên đòi hỏi phải thực hiện các biện pháp để loại trừ tham nhũng. Các tổ chức xã hội, các nhà tài trợ, các ngân hàng phát triển đa phương, các chính phủ và các bộ ngành chịu sự tăng sức ép này;

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: