BIỂN – BỜ

Diễn đàn về Cảng – Đường thuỷ – Thềm lục địa Việt Nam

TUẦN TRA, KIỂM SOÁT VÙNG BIỂN THỜI NGUYỄN SƠ: 1802 – 1858

Posted by bienbo on 16.07.2009

ThS. Lê Tiến Công

Đại học Phan Châu Trinh, Quảng Nam

 

Bài viết được sưu tầm từ Internet, là một tài liệu nghiên cứu công phu của Th.S. Lê Tiến Công, trên cơ sở tổng hợp nhiều tư liệu lịch sử có giá trị. Đây là một trong những tham luận  được phổ biến tại HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển”, được tổ chức tại Hà Nội từ 5 đến 7/12/2008.

Phần 2

 

2. Kiểm soát tàu thuyền ra vào cửa biển

Với một bờ biển rộng dài thì việc kiểm soát tàu thuyền ra vào là hoạt động quan trọng, thường xuyên dưới triều Nguyễn. Thuyền công, thuyền tư, thuyền trong nước và thuyền nước ngoài đều phải quan tâm kiểm soát không ngoài mục đích an ninh và kinh tế.

Các cơ quan có liên quan như ty Hành nhân, Tào chính và nha Thương bạc ngoài việc chuyên môn còn có chức năng “quản chế ngoại thương”. Tháng 12-1835, Minh Mạng  sai “cấp đồ nhung phục cho quan Quảng Thủy để dùng mặc khi có sai phái và xét hỏi các tàu buôn ngoại quốc”35. Việc quy định tàu phương Tây chỉ được đến buôn bán ở Đà Nẵng, không được lập cơ sở buôn bán trên đất liền cũng không ngoài mục đích là để dễ bề kiểm soát vùng biển.

Tàu phương Tây đến cảng biển Việt Nam luôn được dành sự quan tâm đặc biệt. Năm Minh Mạng 18 (1837), ban dụ rằng: “trấn Đà Nẵng thuộc tỉnh Quảng Nam là nơi bờ bể quan trọng ở gần Kinh kỳ, tàu thuyền nước ngoài qua lại, quan hệ không phải là nhỏ. Vậy chuẩn định: từ nay phàm tàu thuyền nước ngoài bất kỳ đến khu trấn Đà Nẵng mà đậu nhờ, thì không kể là dấu hiệu nước nào và là kiểu thuyền gì, viên trấn thủ trấn ấy phải tự đến hỏi rõ tình hình. Nếu là việc quan trọng, thì lập tức làm tờ tâu do đường trạm phi ngựa dâng lên, hoặc do lệ tối khẩn phát trạm đưa vào tâu. Còn các công việc tầm thường, cũng lập tức kể đủ duyên do tư vào bộ để chuyển tâu, khiến trẫm sớm được biết hết tình trạng, điều ấy rất là quan trọng. Cần phải hết sức cẩn thận”36.

Ngoài Đà Nẵng là nơi đón tiếp tàu phương Tây, để đề phòng tàu phương Tây có thể đến cửa biển khác khó đối phó, tháng 5 năm 1835, Minh Mạng truyền dụ cho các tỉnh Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hoà, Bình Thuận, Biên Hoà, Gia Định: “từ nay phàm các thuyền của Tây dương đến đỗ ở trấn phận nào thì viên trấn thủ ở cửa biển ấy đem thông ngôn hoặc người nhà Thanh biết tiếng Tây dương đến tại chỗ xét hỏi lý do đến và xem xét hình dáng, màu sơn, cờ hiệu, số người ở trong thuyền nhiều hay ít, thuyền đó là thuyền buôn hay thuyền chiến. Nhất nhất ghi rõ, lập tức báo tỉnh. Nếu thuyền buôn thì theo lệ thường mà làm (tức bảo đến Đà Nẵng- Tg); nếu là tàu chiến thì một mặt phi tấu, một mặt sai phái binh thuyền canh phòng nghiêm ngặt ở trấn phận và phi tư cho tỉnh láng giềng phòng bị. Thuyền ấy đi ngày nào, hoặc vẫn đóng lại làm việc gì, cũng cho phép tiếp tục tâu lên để biết rõ tình trạng”37.

Đề phòng kiểm soát, ngăn chặn sự gian trá, trà trộn, năm Minh Mạng thứ 11 (1830), qui định: “Từ nay về sau, phàm [tàu nước ngoài] đến buôn ở các địa phương, phải có hàng hóa mới cho vào cảng, không cho nói ỷ vào việc đưa thuyền không đến đón khách để ngăn tình tệ gian trá. Ai trái lệnh thì nghiêm trị không tha”38.

Tháng 12 năm 1835 Minh Mạng qui định chặt chẽ việc kiểm soát tàu thuyền phương Tây như: “khi đến đậu phải xét hỏi trong tàu có bao nhiêu người, đăng ký rõ ràng, bẩm lên thượng ty, mới cho lên bờ, mua bán với các cửa hàng chợ búa gần đó, nhưng phải nghiêm việc phòng bị, không cho ở tản mát nhà dân, mua bán xong rồi lại điểm đủ số người, đuổi ra biển không cho một người ở lại”39.

Thiệu Trị năm thứ 5 (1845), qui định chi tiết về kiểm soát tàu thuyền nước ngoài đến cảng biển Việt Nam như sau: “Thuyền các nước ngoài đến có chạy vào khu trấn, thì trước khi sắp đến hải phận trấn này, phải kéo cờ hiệu lên để tiện ghi nhận. Khi thuyền nước ngoài mới vào trấn đậu lại, tiếp được viên trấn thủ uỷ người đến gạn hỏi, thì phải đem ý kiến tới đấy đáp lại rõ ràng. Nếu có bắn súng mừng thì đài trên thành cũng bắn 3 phát đáp lại. Sau khi thuyền nước ngoài đậu lại, nếu chỉ lấy củi lấy nước thì cho vào lấy ở nơi gần bờ, lấy củi thì phải lấy ở núi Trà Sơn, gánh nước thì phải gánh ở chợ Hàn. Không được di tản vào làng xóm. Một hai ngày lấy xong thì chở đi, không được ở lâu để gây việc. Thuyền nước ngoài nếu muốn lên chợ ở trên bờ, tìm mua thức ăn thì cũng không cấm, nhưng chỉ cho đi trong số 10 người. Không được đi quá nhiều và không được mang theo binh khí, súng trường, lên bờ để bắn càn. Thuyền nước ngoài đến đậu lại để buôn bán, thì khi báo cáo hàng hóa, phải đem cả số người đáp theo trong thuyền và các số súng ống, khí giới là bao nhiêu, khai bẩm minh bạch, do viên tấn thủ kiểm điểm đích thực, ghi chép rõ ràng, kể rõ nguyên do chuyển bẩm và cho lên bờ tùy nơi gần tiện chợ mà buôn bán. Xong việc, lại kiểm soát kỹ lưỡng rồi cho về thuyền. Không được ngầm ở lại trong nhà mọi người. Nếu ai trái lệnh thì lập tức bắt giữ, chiểu theo luật “kẻ nước ngoài vào cõi” mà xử tội chém đầu. Còn người cho bọn ấy ngần ở, thì cũng xét tội như kẻ phạm pháp kia. Những thuyền con đi theo thuyền lớn, nếu nhân có việc mà chạy đến thì chỉ cho đến chỗ bến nơi tấn thủ mà thôi, không được vượt qua.

Thuyền nước ngoài đến đậu ở cửa trấn không được đi lại riêng với người ta, ngầm thông tin tức và không được cho người ta đến thuyền, để đến nỗi gây ra chuyện”40.

Đối với tàu thuyền trong nước, việc qua lại nơi đò ải, cửa biển, nhà Nguyễn có qui định cụ thể. Ở đây chúng tôi chỉ lược trích những thông tin chủ yếu:

Minh Mạng năm thứ 20 (1839), qui định: “Hai cửa ải Hải Vân, Quảng Bình là nơi quan trọng, gần Kinh kỳ. Từ trước đến nay đặt người trấn thủ, kiểm soát rất nghiêm. Nhưng kẻ trốn tránh hoặc có đi thuyền qua lối khác, đến nỗi cửa ải không thể kiểm soát vào đâu được.

Xét Quảng Bình từ bến đò thôn Động Hải, chuyển ra cửa biển Nhật Lệ, do đường biển vào cửa biển Linh Giang, Quảng Nam từ bến đò Thanh Khê do đường biển đến thẳng bến đò trạm Thừa Phúc phủ Thừa Thiên, hai bến đò ấy vốn không đi qua cửa ải và đồn biển. Từ trước vốn không đặt bến đò ở đấy, chỉ là chủ thuyền xoay kiếm nhiều lợi, mà hành khách cũng cẩu thả tránh sự khó nhọc, đến nỗi kẻ giam manh nhân thế mà được lẻn qua nơi ấy. Nay đều cấm chỉ. Vẫn do hai đồn biển Hải Vân, Nhật Lệ xét hỏi nghiêm ngặt”41.

Tháng 10 năm 1835, vì quan tỉnh tâu báo chậm nên Minh Mạng qui định: “Từ nay, phàm thuyền nước ngoài đến ở vụng Trà Sơn, nếu là thuyền chiến hoặc có sự tình gì khác thì chuẩn cho viên coi tấn phận Đà Nẵng lập tức một mặt tâu lên, một mặt báo tỉnh. Quan tỉnh lại căn cứ vào tin báo, tiếp tục tâu trình. Còn thuyền buôn đến đỗ thì viên coi trấn phận phải hỏi rõ, rồi tâu lên và đệ trình lên cả cái đơn kê hàng hóa ở trong thuyền. Quan tỉnh chỉ căn cứ theo tờ báo cáo của trấn phận mà tư lên bộ để lưu chuyển, không cần phải tâu”42.

Những hoạt động kiểm soát tàu thuyền ra vào cửa biển chính là việc trực tiếp tiếp cận để xét hỏi tàu thuyền lúc cập cảng để tùy nghi xử lý, như tháng 12-1836, tàu binh nước Pháp vào đậu tại hòn Mỏ Diều thuộc tỉnh Quảng Nam. Khiến người ra hỏi, họ trả lời rằng: “tàu ở thành Tu Lông, đức quốc trưởng khiến đi thao diễn đàng biển đã hơn 1 năm; nay từ Mã Cao trở về, xin ở lại một vài ngày để lấy củi”. Qua ngày mai, bắn một phát súng lớn rồi chạy đi”43.

Tấu ngày 30-7-1848: Tổng đốc Quảng Nam – Quảng Ngãi Nguyễn Lương Nhàn, khâm phái Tôn Thất Thường báo cáo về việc xét hỏi chiếc thuyền buôn của người Pháp tên là Y Đóa chở hàng tới xin bán ở Đà Nẵng 44.

Tấu ngày 6-2-1849, bộ Lễ báo cáo về việc, “ngày 31-1 thuyền Pháp vào Đà Nẵng – Quảng Nam, lấy cớ là để tìm kiếm nạn nhân và xin cấp giấy tờ. Quan chức tỉnh đó đã sai Lê Chính Thuỳ và Cai đội Vũ Dũng mang giấy tờ đến cho thuyền ấy, Vũ Dũng đã tự tiện một mình xuống thuyền, nói chuyện với thuyền trưởng và xin sách đạo. Lê Chính Thuỳ phải trách mắng, ngăn cản mới trả lại sách đạo nhưng Vũ Dũng lại ngầm lấy 15 lá cờ của Pháp. Cai đội Vũ Dũng trước đã can tội ngầm theo đạo Gia tô, nay lại coi thường luật pháp, tự do giáo thiệp với người Âu. Xin giao Vũ Dũng cho bộ Binh tra hỏi và xét xử”45.

Trên thực tế hoạt động kiểm soát cũng không tránh khỏi những hạn chế. Có khi quan phụ trách không tâu báo một tàu Pháp vào tránh gió, người phụ trách bị phạt: “lúc ấy tàu Pháp bị gió, ghé vào tránh gió rồi đi không có ý gì. Sao đã cho người ra hỏi lý do rồi mà không tâu lên, chỉ nói qua loa cho xong việc?. Tên Nguyễn Đức Chung làm việc sơ lược, phạt bổng 3 tháng để răn tội” (tấu ngày 3-7-1841) 46 [1, Thiệu Trị, tập 6, 76]

 

Châu bản cho biết, ngày 27-6-1838, Lãnh binh Quảng Nam và Thủ ngự Đà Nẵng Trương Hữu Xuân tâu: “sáng nay có tàu ngoại quốc đỗ tại hòn Mỏ Diều ở ngoài biển, Trương Hữu Xuân và thơ lại Nguyễn Chiêm Lượng ra xét. Khi có quân binh dụng đầy đủ tại thuyền. Ra hỏi thì không có thông ngôn nên không hiểu tiếng nói. Xét thì đó là thuyền binh, thấy cờ như thuyền của nước Phú Lãng Sa (Pháp), có ba cột buồm, mỗi cột 4 tầng, có chừa cửa súng 52 lỗ. Thuyền dài ước 13 trượng (khoảng 52m), rộng ước 3 trượng, súng đại bác 52 khẩu, súng độ kim 8 khẩu, súng điểu thương 400 cây, gươm đao 100 cây, số người hơn 400. Trong kho, đồ đạc không kiểm được”47.

Ngay lập tức Minh Mạng cử Đào Trí Phú và Lý Văn Phức vào Đà Nẵng xét, phái đoàn này có báo cáo: “Tuân dụ tới Đà Nẵng thương thuyết với thuyền Phú Lãng Sa nhưng chủ thuyền tên Lập Lạc nói đi các nước để thao diễn, không phải đi về quốc sự. Thuyền chỉ đậu lại vài ngày để mua củi, nước, thực phẩm và sửa dây buồm. Chúng tôi có mời lên công quán nhưng họ không lên vì không phải đi việc công, cho nên không dám lên. Phái viên hỏi sao đổi hiệu cờ, chủ thuyền cho biết đã đổi từ lâu, nhiều nước đã biết và xin vài ngày nữa sẽ ra đi”48. Vào thời Thiệu Trị, cũng xảy ra trường hợp tương tự, khi thuyền Pháp nhổ neo ra đi, thủ ngự còn mang lính đi thuyền theo dõi để đề phòng: “Trước đây đinh thuyền Phú Lãng Sa đậu tại dương phần cù lao Mỏ Diều cửa Đà Nẵng. Tôi đã dâng sớ tâu lên. Hôm nay vào khoảng giờ Tỵ, thuyền ấy nhổ neo ra khơi, tôi liền sức Thủ ngự Võ Văn Hóa đem lính lệ đi thuyền theo dõi để đề phòng. Thấy thuyền ấy theo chiều gió đông thẳng ra khơi, đi xa không thấy bóng buồm” (tấu ngày 17-2-1843).

Thời Tự Đức cũng lại như vậy. Bản tấu ngày 19-1-1849 cho biết, “Tuần phủ Bình Định Lê Nguyên Trung báo cáo về việc một chiếc tàu thủy chạy bằng động cơ của một nước Tây Âu vào đậu ở hải phận thuộc cửa biển Thị Nại ngày 18-1. Vì không có thông ngôn nên không hỏi han gì được, khi thông ngôn tới trời đã qúa tối nên lại không tiện đến hỏi. Tới giờ Tuất chiếc tàu đó đã nhổ neo chạy đi rồi. Do đó không biết được chiếc tàu đó là của nước nào, trên tàu có bao nhiêu người”49. Những sự việc trên cho thấy Minh Mạng, Thiệu Trị rồi Tự Đức đã rất quan tâm nhưng cũng cho thấy các thiếu sót: không có thông ngôn túc trực, không biết người Pháp đã thay đổi cờ “từ lâu”, không giám xét hỏi khi trời đã tối, thậm chí họ đến rồi đi mà trấn thủ không biết thông tin gì khác.

Kết luận

1. Là triều đại cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam, triều Nguyễn đã kế thừa những tri thức, kinh nghiệm xây dựng và bảo vệ đất nước của các triều đại trước để xây dựng một quốc gia thống nhất, vững mạnh có vị trí trong khu vực. Đặc biệt, khi những cuộc thăm dò của thực dân phương Tây núp dưới danh nghĩa thương mại và truyền giáo ngày một nhiều, lộ rõ ý đồ xâm lược, thì nhu cầu bảo vệ quốc gia từ phía biển được đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết. Trước yêu cầu và hoàn cảnh lịch sử mới, triều Nguyễn đã nhận thấy cần phải bảo vệ quốc gia không chỉ ở biên giới mà còn phải chú trọng nhiều trong phòng thủ vùng biển, đặc biệt là vùng biển miền Trung, nơi có kinh đô và nhiều cửa biển, địa hình phức tạp, giữ một vị trí quan trọng trên đường hàng hải quốc tế.

2. Với mong muốn giữ yên mặt biển, việc tuần biển rất được quan tâm, thể hiện qua rất nhiều chỉ dụ, phân phái rất nhiều binh thuyền thường xuyên tuần thám mặt biển đến khi nào “trông vào không thấy bờ”; tuần tra liên tục “khiến cho trên mặt biển thuyền đi tuần của Kinh phái, tỉnh phái, liên tục theo nhau. Nếu gặp thuyền giặc thì lập tức đuổi bắt”… Tuy nhiên tuần tra phát hiện giặc biển thì rất nhiều mà việc đánh dẹp thì không phải bao giờ cũng thu được kết quả tốt đẹp, thậm chí nhiều lúc thể hiện sự bất lực trước một lực lượng cướp biển vừa nhiều, có tổ chức và có phần táo tợn. Để quản lý đất nước có vùng biển dài rộng, lại nhiều cửa biển, nhà Nguyễn đã có nhiều qui định để kiểm soát tàu thuyền ra vào, đặc biệt vào thời đại phải thường xuyên tiếp xúc với các tàu thuyền nước ngoài, nhà Nguyễn đã rất lưu ý đến những tàu phương Tây. Những hoạt động ấy đã góp phần lớn vào việc nắm bắt thông tin, đảo bảo an ninh, quốc phòng và thu thuế.

3. Thay đổi cái nhìn truyền thống và hướng tới việc chú trọng bảo vệ quốc gia là phòng thủ vùng biển, các vua nhà Nguyễn đã thi hành nhiều biện pháp bảo vệ thường xuyên trên vùng biển nói chung và ở miền Trung nói riêng. Tuy còn những hạn chế nhất định song những biện pháp đó đương thời phát huy tác dụng không nhỏ. Nghiên cứu về việc tổ chức và hoạt động phòng thủ vùng biển, cụ thể là công tác tuần tra, kiểm soát vùng biển miền Trung dưới triều Nguyễn rõ ràng mang nhiều ý nghĩa thực tiễn: thấy được những gì mà triều đại phong kiến này đã làm trong việc bảo vệ vùng biển, đó cũng là góp phần phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước ngày nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Châu bản Triều Nguyễn (mục lục), Bản thảo viết tay, Triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức (đến năm 1857), 122 tập, Tư liệu đề tài khoa học cấp nhà nước KX-ĐL: 94-16.

2. Cao Xuân Dục tuyển tập, Tập 1, Quốc triều sử toát yếu, Bản dịch, Nxb Văn học, Hà Nội, 2002.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001.

4. Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Bản dịch, in lần thứ 2, Tập 5, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2005.

5. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập 1, Bản dịch của Viện Sử học, Tái bản lần thứ nhất, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2002.

6. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập 4, Bản dịch của Viện Sử học, Tái bản lần thứ nhất, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2004.

7. Quốc sử quán triều Nguyễn, Minh Mệnh chính yếu, Tập 3, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1994.

8. Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Châu bản triều Tự Đức, (1848 – 1883), Vũ Thanh Hằng, Trà Ngọc Anh, Tạ Quang Phát tuyển chọn và dịch, Nxb Văn học, Hà Nội, 2005.

Một phản hồi to “TUẦN TRA, KIỂM SOÁT VÙNG BIỂN THỜI NGUYỄN SƠ: 1802 – 1858”

  1. Lê Công said

    lang thang thế nào lại gặp bài của tớ ở đây.
    cám ơn đã quan tâm.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: