BIỂN – BỜ

Diễn đàn về Cảng – Đường thuỷ – Thềm lục địa Việt Nam

LUẬT BIỂN VÀ CÁCH QUẢN LÝ BIỂN TRONG THỜI ĐẠI MỚI

Posted by phanbachchau trên 06.08.2009

Ngày 23/6/1994, Việt Nam đã phê chuẩn Công ước Luật Biển 1982, tuy nhiên việc nội luật hoá thành luật quốc gia Việt Nam lại chưa làm được. Luật cơ bản về biển ra đời sẽ giải quyết được sự bất cập trong quy trình làm luật

Theo Nghị quyết số 27 (2008) của Quốc hội, tại kỳ họp thứ 6 (sẽ diễn ra vào cuối năm nay) Luật các vùng biển Việt Nam sẽ được Quốc hội xem xét và thông qua. Bộ Ngoại giao là đơn vị đầu mối soạn thảo dự án Luật này. 

Theo ông Nguyễn Chu Hồi: Luật cần đưa ra cách quản lý, sử dụng biển hợp lý, bền vững và có “của để dành” cho thế hệ sau (Ảnh: S.Đào)

PGS.TS Nguyễn Chu Hồi – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam khẳng định việc ra đời luật quản lý biển là rất cần thiết. Bởi đó là luật gốc. Từ đây sẽ có các luật chuyên ngành tạo hành lang pháp lý cho từng lĩnh vực cụ thể như Luật hàng hải, Luật thủy sản hay Luật tài nguyên và môi trường biển (đang được soạn thảo).

Trên thế giới, ngoài quản lý vùng biển theo pháp luật quốc tế, nhiều nước còn quản lý theo không gian, dựa trên các hệ sinh thái (ví dụ như một vùng vịnh, một rạn san hô, bãi cát lớn… đó là những vùng tương đối hoàn chỉnh, do vậy có quy tắc quản lý riêng ngoài quy tắc chung của các vùng  lớn). Cách quản lý này sẽ giúp sử dụng biển hợp lý, bền vững và có “của để dành” cho thế hệ sau.

“Sinh con rồi mới sinh cha”, việc Luật biển ra đời muộn liệu sẽ có “độ vênh” với các luật con- luật chuyên ngành đã có hiệu lực (luật hàng hải, dầu khí, thuỷ sản…)? Ông Nguyễn Chu Hồi thừa nhận sẽ có thể phải rà soát, điều chỉnh, việc luật con phải tuân thủ luật gốc là đương nhiên, không ngược với quy trình.

Ngày 23/6/1994, Việt Nam đã phê chuẩn Công ước Luật Biển 1982, tuy nhiên việc nội luật hoá thành luật quốc gia Việt Nam lại chưa làm được. Luật cơ bản về biển ra đời sẽ giải quyết được sự bất cập trong quy trình làm luật.

Luật ra đời phục vụ cho mục đích phát triển- vốn là quá trình “động”- theo chu kỳ nước nào cũng có chuyện sửa luật, không riêng gì nước ta, trừ các vấn đề bao trùm. Hơn nữa, theo ông Hồi, “lĩnh vực biển tương đối nhạy cảm, nhận thức về biển không thể sớm và nhanh như các vấn đề trên đất liền, do vậy không quan trọng muộn hay không mà là có ý thức sửa chữa không?”

Phó tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo cũng đặt ra ba nội dung mà Ban soạn thảo phải thể chế hoá được thì Luật mới thực sự có giá trị thực tế và có yếu tố mới, phù hợp với yêu cầu của thời đại.

Thứ nhất, theo ông Hồi, cái khó khi nằm ở chỗ, nói tới biển và đại dương là nói tới vấn đề quốc tế, “động” tới quyền lợi của nhiều quốc gia. Tài nguyên biển vốn sử dụng đa mục tiêu, đa ngành. Do vậy, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi cho rằng “khi soạn thảo luật gốc cần phải tính tới sự phù hợp với các công ước quốc tế, để đảm bảo tối ưu hóa nhất của luật Việt Nam khi tiến hành các hoạt động trên biển”.

Sử dụng khai thác biển trong bối cảnh hội nhập hiện nay không chỉ có người Việt. Luật biển Việt Nam không chỉ điều chỉnh hành vi của người Việt Nam trên biển mà của cả các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động trong nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau, thậm chí cả việc xâm phạm trái phép trên vùng biển Việt Nam.

Thứ  hai, lợi ích từ đại dương rất lớn, xu hướng hiện nay là các quốc gia đang hướng ra biển, lấy đại dương nuôi đất liền (Nhật, Trung Quốc, Mỹ… đã làm từ hàng chục năm nay). Do vậy, nếu không đặt ra vấn đề này này, Luật biển không có yếu tố mới.

Việt Nam cũng không ngoại lệ, việc phát triển kinh tế biển trở thành nhu cầu khách quan, thực tiễn, vừa tạo ra sức mạnh của dân tộc vừa đảm bảo an sinh cho con người. Để biển mãi nuôi người phải tính tới yếu tố phát triển bền vững- dựa trên nền tảng của tài nguyên và môi trường. Chính vì vậy, Luật biển phải đặt việc bảo toàn, phát triển tài nguyên và môi trường biển vào trung tâm để “cây có quả mà hái mãi”.

Biển cần được quản lý theo không gian (Ảnh minh hoạ)

Thứ ba, làm thế nào để bảo vệ được tài nguyên môi trường biển? Muốn vậy Luật phải hướng dẫn cách quản lý ở cấp vĩ mô. Một trong những cách thức quản lý biển trong thời đại mới là quản lý theo không gian. Bản thân không gian kinh tế biển rất rộng, không chỉ là không gian trên biển mà còn là không gian vùng duyên hải, không gian đảo. Chúng có sự tương tác, hỗ trợ nhau về tự nhiên. Người làm luật phải nhìn thấy được mối tương tác này mới ra tư duy quản lý lớn nếu không duyên hải, đảo, đều bị phá, khi ấy sự tương tác sẽ thể hiện mặt trái, cả hệ thống sẽ bị tàn phá.

Hơn nữa, không gian biển nếu không được nhìn tổng thế và trong những mối tương tác nhất định thì chỉ có thể phát triển nó một cách manh mún. Nền kinh tế quốc gia phải gắn với kinh tế đại dương, gắn bờ với biển khơi… nếu không ta sẽ vừa mất cơ hội vừa mất quyền…

Trên cơ sở quản lý không gian ta phải phân vùng biển ra các mảng theo chức năng tự nhiên, sử dụng, khai thác, bảo vệ dựa trên tính bền vững và từ đó có quy chế quản lý, chiến lược phù hợp. Quy hoạch không gian biển cũng giống như quy hoạch đất trên đất liền. Trong không gian đó đâu là vùng do trung ương quản lý, đâu là vùng giao cho địa phương, từ đó các địa phương giao cho các ngành du lịch, nông nghiệp… khác nhau,

Ngoài không gian bề mặt còn khai thác biển theo hình hộp, chiều sâu. Bề mặt đáy biển, lòng đất cũng có nhiều loại tài nguyên khác nhau…, Luật biển cần phải tạo được khung pháp lý cho vấn đề này. Bởi nếu không làm rõ sau này luật “con” muốn có mà luật “mẹ” không có thì biết điều chỉnh kiểu gì trong khi “con” không thể vượt “mẹ”?

Là nước đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á ra Tuyên bố về vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa (Tuyên bố 1977), tiếp đó, là Tuyên bố của Chính phủ năm 1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải (Tuyên bố 1982) và Nghị quyết ngày 23/6/1994 của Quốc hội khoá 9 phê chuẩn Công ước Luật biển 1982, cơ sở pháp lý cơ bản cho việc xây dựng hệ thống pháp luật về biển của Việt Nam đã có.

Tuy nhiên, để trở thành một nước mạnh về biển vào năm 2020 như mục tiêu mà Nghị quyết số 27 của Chính phủ (30/5/2007) đưa ra về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, hơn lúc nào hết Việt Nam cần hành lang pháp lý cho việc tiến ra biển – Luật biển – để quản lý, khai thác và bảo vệ biển hiệu quả nhất./.


Thu Thuỷ

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: