BIỂN – BỜ

Diễn đàn về Cảng – Đường thuỷ – Thềm lục địa Việt Nam

CHỮ VÀ NGHĨA – Ký: Phạm Thế Minh

Posted by phanbachchau on 07.10.2009

   – BIỂN & BỜ xin giới thiều đến bạn đọc bài ký “CHỮ VÀ NGHĨA” của tác giả Phạm Thế Minh. Bài sẽ đăng trong chuyên mục Văn hóa – Văn nghệ của tạp chí số 11+12/2009

  


CHỮ VÀ NGHĨA

 

                 
Phạm Thế Minh

 


           Lê Thiên Lý, hội viên Hội thư pháp Hải Phòng rũ tôi vào hội. Anh nhiệt thành chèo kéo là vào Hội không tốn kém, không phiền hà gì mà lại tìm thấy sự vui vẻ. Biết là thế nhưng tự thấy mình không có năng khiếu gì về nghệ thuật thư hoạ, vốn liếng chữ Hán lại chưa đong đầy lòng bàn tay nên tôi từ chối. Tôi biết Lý có năng khiếu này từ nhỏ. Học chữ Trung Quốc anh nhớ nhanh, viết đẹp. Vốn xuất thân từ một gia đình tuy nay không còn ở hàng “danh gia”, nhưng vẫn ở hạng “vọng tộc”. Nghe nói viễn tổ Lý đổ Đệ nhị giáp tiến sĩ khoa Nhâm Tuất (1862). Bài sách văn của ông còn dấu phê bút son của chính vua Tự Đức. “… Đọc bài biểu của ngươi ở kỳ đệ nhị Trẫm nghẹn ngào không đọc hết. Ngươi đã có lời trung nghĩa tất có lòng trung nghĩa để báo đền…” Ấy là nghe nói thế, không biết đúng hay sai. Trải bao biến động, gia đình anh từng bị qui là địa chủ trong cuộc cải cách long trời lở đất, rồi tiếp đó là công cuộc tập thể hoá đến tận cái kim sợi chỉ, thì những dấu tích tàn dư của chế độ phong kiến sao mà trụ được? Tôi từng chứng kiến nhiều đình, chùa, đền, miếu bị phá bỏ. Cái nào may mắn được biến thành trụ sở uỷ ban hoặc nhà kho hợp tác. Không biết bao nhiêu hoành phi, câu đối, tượng Thánh, tượng Phật bị đem làm củi đốt vôi, đốt gạch hoặc làm bù nhìn xua chuột, đuổi chim.

 

Chỉ một thời gian chúng ta đã xoá gần hết những chứng tích cả ngàn năm góp nhặt. Và cũng chỉ không lâu chúng ta đã rũ bỏ truyền thống của bao đời, cả xấu, cả tốt. Nhân danh Cách mạng,  nhân danh giai cấp vô sản chúng ta không cần đến đức hiếu đễ trong mỗi gia đình, chúng ta làm đảo lộn cả truyền thống tôn sư trọng đạo, chúng ta phá bỏ tình thương yêu đùm bọc xóm giềng, những điều mà cả ngàn năm bọn giặc phương Bắc và cả trăm năm cướp nước phương Tây không làm nổi.

Vẫn biết Cách mạng thường mang bệnh ấu trĩ tả khuynh khó tránh. Vẫn biết Cách mạng cần bạo liệt để nhấn chìm mọi sự chống đối, cản đường. Nhưng Cách mạng cũng cần một trí tuệ minh mẫn và sáng suốt. Càng cần hơn là trái tim nhân hậu, vị tha. Thiếu điều ấy, đã biến ta thành kẻ phá hoại. Thiếu điều ấy, đã biến ta thành những tên đồ tể, thậm chí thành lũ Nadi! Mi-khai-in Bun-ga-cốp – nhà văn Nga – đã có lý khi cho rằng: nguồn gốc xuất thân của một con người không phải là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá con người thay cho năng lực trí tuệ và đạo đức của con người đó. Sự thiếu văn hoá và thô thiển tâm hồn, cái thú ham mê hò hét và hô khẩu hiệu chính trị đã làm hỏng đi tất cả. Giá như không có ngộ nhận về sự tuyệt đối đúng, tuyệt đối tiến bộ của tất cả những gì mang danh “cách mạng”, mang danh vô sản thì chúng ta đâu phải gian khổ, phải chịu những mất mát lớn lao như đã mất?

*

Lê Thiên Lý không có may mắn như tôi. Học hết bậc phổ thông anh nhập ngũ ngay từ những ngày đấu giặc Mỹ đánh ra miền Bắc. Cũng không biết anh ra quân từ lúc nào, nhưng sau 1975 anh đến rũ tôi đi “đánh” hàng tàu biển. Tôi vốn nhát, lại cũng không biết buôn bán nên đã từ chối. Không biết thứ gì lãi, thứ gì lỗ anh đã ôm tất từ ti vi, catsets, áo quần và cả bột màu thuốc vẽ. Mỗi chuyến tiếp cận tàu biển mua hàng như một lần ra trận. Cái sống cái chết cách nhau chỉ gang tất. Cũng có vụ đành vất hàng xuống biển để phi tang, cứu lấy thân mình. Nghe nói có thời anh còn in vàng mã, viết sớ thuê. Và cuộc sống cứ trôi theo dòng chảy khốc liệt của nó. Anh vẫn chìm nổi cùng cái gia đình bé nhỏ nằm sâu trong ngõ Hàng Gà.

Bây giờ thì Lý đã có điều kiện để đi theo sở thích của mình, làm một nhà thư pháp. Phú quí sinh lễ nghĩa. Nhiều kẻ mới phất lên, có nhà to cửa rộng, sắm sập gụ tủ chè cũng muốn treo hoành phi câu đối, treo chữ Thánh hiền cho ra dáng “danh gia”. Vì thế Lý bận và đi suốt ngày. Cái chất nghệ sĩ trong anh cũng được dịp trào ra, không còn bị kìm nén, bị chi phối bởi những mưu toan lụn vụn. Nghe nói anh không về nhà cả tuần, thậm chí cả tháng. Chỉ với cái túi vải trong có vài thỏi mực Tầu, vài cây bút lông to nhỏ, anh chuyển từ nơi này sang nơi khác. Đình chùa, miếu mạo nào được phép trùng tu, dựng lại đều có mặt anh, như một loại thợ không thể thiếu trong việc tạo dựng.

*

Có lần do tò mò, tôi theo nhà văn Sơn Tùng đến nhà cụ Lê Xuân Hoà. Cụ ở trong khu tập thể Nguyễn Công Trứ. Căn hộ do Công ty vệ sinh cấp cho. Chả là trước cụ làm công nhân ở đó. Vào nhà cụ phải qua một đoạn ngõ. Người ta bán ở đây đủ thứ đồ điện, đồ cơ khí và đồ ăn. Len giữa những quầy hàng tôi theo nhà văn Sơn Tùng chui vào một cầu thang ẩm thấp. Lên tới tầng hai, cụ ở ngay căn đầu dãy trái. Căn phòng tối không đủ ánh sáng. Đồ đạc sơ sài. Trên tường nhà treo rất nhiều ảnh. Ảnh của những người đã đến xin chữ. Nhiều người có chức, từ cấp thành phố đến các vị nguyên thủ quốc gia. Không biết những người như vậy có mặt trong căn hộ bé nhỏ này là để thăm nom, để tỏ lòng ngưỡng mộ một nhà thư pháp tài hoa, một học giả Hán Nôm hay chỉ là xin chữ? Với cụ Hoà thì đấy là niềm vui. Nó như chứng tích cuộc đời đã quá bĩ cực. Nhìn trong ảnh thấy có người đang đỡ chữ “TÂM”, có người lại tựa lưng vào chữ “QUỐC THÁI DÂN AN”. Nghe nói có vị Chủ tịch thành phố nọ đến chơi. Cụ viết tặng mấy chữ “KIM GIAO CỖ NGHIÊN” nhưng không hiểu sao vị Chủ tịch lại cố xin chữ “HOÀ”. Lại nghe nói chữ “HOÀ” vị chủ tịch không đem về nhà mà ông bắt Chánh văn phòng treo ngay giữa phòng họp Uỷ ban. Mấy tay “buôn dưa lê” tán rằng thâm ý của Chủ tịch là “tao cứ làm”, cuối cùng cũng “hoà cả làng”. Sợ gì!

Theo gia phả họ Lê, thì cụ Lê Xuân Hoà là hậu duệ của ông hoàng Lê Duy Mật, con trai vua Lê Dụ Tông. Năm Kỷ Mùi (1739) do sự bạo ngược và xa xỉ của Chúa Trịnh Giang, các tôn thất nhà Lê gồm Lê Duy Mật, Lê Duy Quy, Lê Duy Chúc cùng Phạm Công Thế, Vũ Thước mưu khởi binh, đốt kinh thành, lật đổ họ Trịnh. Việc không thành, Lê Duy Mật chạy vào Thanh Hoá vận động nông dân khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa kéo dài ba mươi hai năm, là cuộc khởi nghĩa đã mạng lại nhiều quyền lợi cho dân nghèo và gây tổn thất lớn cho Triều đình. Khi nhắc đến cụ Lê Duy Mật, cụ Hoà vẫn tỏ lòng kính trọng sâu sắc vị Tổ phụ của mình và cụ coi như tấm gương dạy bảo con cháu. Năm 1919, cụ Hoà đã định lều chõng đi thi, nhưng tuổi còn quá trẻ nên không được dự. Là một trí thức Nho học lỗi thời, lại không có điều kiện chuyển sang Tây học như một số người cùng lứa, cụ đành an phận với đường cày nhát cuốc. Cách mạng nổ ra, cụ theo cách mạng và nhìn cách mạng như thấy bầu trời mới, và với một niềm tin mới. Nhưng đùng một cái mọi sự lại thay đổi. Từ một bí thư chi bộ Đảng, cụ bị qui thành Quốc dân đảng, một phần tử nguy hiểm chui vào hàng ngũ để phá hoại. Cụ bị bắt, bị giam và bị đấu tố. Cụ không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Những điều người ta đem hỏi cụ, cụ nghe như hỏi một người nào không phải mình. Một hôm cụ nghe được người vẫn xưng tên “Đội” dặn nhỏ người du kích gác là phải canh gác cẩn thận vì chỉ một hai ngày nữa sẽ xử tử. Thế là nhân cái cùm bằng thân cau khô lại, lỗ cùm rộng ra, cộng với người du kích gác lâu ngũ gật cụ đã bỏ trốn. Cuộc trốn của cụ cũng có thể viết được một vài chương tiểu thuyết, nhưng thôi, thoát chết là quí rồi. Tôi hỏi, sao lúc ấy cụ không trốn vào Nam? Cụ bảo mình trốn cái chết nhưng không trốn Đảng, vì nếu chết lúc ấy là chết oan. Cụ tìm ra Hà Nội là để báo cáo với Đảng, với bác Hồ là chúng ta đang làm sai, chúng ta đổ máu vô ích. Còn nếu vào Nam thì mình đang đúng lại hoá sai, mình đang trung thành hoá thành kẻ phản bội. Tôi lại hỏi cụ có gặp Đảng, gặp bác Hồ không? Cụ bảo không gặp được vì Đảng xa quá! Chao ôi một Đảng viên mà không đến được Tổ chức của mình, không nói được tiếng nói đến Đảng của mình, nơi mình gửi gắm niềm tin, thì căn bệnh từ trong đã phát ra rồi. Tôi chỉ lên mấy bức ảnh cụ treo trên tường và nói, đây chả là Đảng thì là gì? Cụ cười lớn: mấy ông này lại là một Đảng khác, không phải của mình nữa rồi! Cụ Hoà ra Hà Nôi. Thủ đô mới giải phóng với bao công việc còn bề bộn nên không ai để ý đến cụ. Thoạt đầu cụ xuống bến Phà Đen làm công nhân bốc vác. Khi lập quốc doanh xếp dỡ, cụ lại chuyển sang công ty vệ sinh. Công việc chỉ làm về đêm để đỡ gây xú uế cho mọi người! Để ẩn mình âu cũng phải như thế. Xem ra, cũng là một cách men tường của các bậc quân tử. Đêm đi làm cái công việc khó khăn gần như nhất thiên hạ, ngày lại cặm cụi học chữ Hán, chữ Nôm. Hai việc, ở hai đầu cuộc sống nhưng việc nào cũng cần. Sau này đã hiểu tôi, có lần cụ bảo cụ là công nhân chính hiệu của ngành giao thông công chính, thế mà tôi không tặng cho cụ Huy chương vì sự nghiệp của ngành. Tôi biết cụ nói đùa, nhưng vẫn có ý định nói với Sở Giao thông – Công chính Hà Nội đề nghị tặng cụ huy chương để làm kỷ niệm. Việc chưa kịp làm thì cụ đã ra đi, ra đi vĩnh viễn, sau khi đã nhìn thấy đủ cay đắng và vinh quang của một kiếp người

*

Lê Thiên Lý vẫn tự hào là đã sáng tạo ra một thế thư pháp. Ấy là từ chữ tên người theo Hán tự anh thể hiện tên người qua nét chân dung, qua hình, bông hoa, bằng các hình khác mà thành tên chữ Hán. Tết Kỷ Sữu anh tặng tôi bức thư hoạ vẽ gương mặt một người nhưng là chữ Văn Cao. Ở phần lạc khoản anh viết một dòng: Chiếu trên ngất ngưởng ông tiên chỉ. Đoạn này cũng được lấy từ một vế câu đối của cụ Yên Đổ: “…chiếu trung đỉnh ngất ngưởng ngồi trên; ngôi tiên chỉ cũng là rất đáng“. Ý nói ông Văn Cao không có chức tước gì và càng không có quyền bá nhưng là người xứng đáng ngồi ở chiếu trên, như một ông Tiên chỉ trong làng Văn nghệ.

Mấy năm trước, anh có tặng tôi một bức thư pháp với ba con chim én bay lên, ba chữ là họ, tên đệm và tên tôi bằng chữ Hán. Phần lạc khoản có câu thơ: “Thế sự nhẹ tênh đường danh lợi. Nhân tình nặng trĩu nợ trăng hoa“. Thật lòng tôi thấy ngượng với câu thơ ấy vì mình nặng cả hai! Cụ Lê Xuân Hoà là nhà thư pháp với nghệ thuật truyền thống. Cụ nắm và viết cả tám thể của thư hoạ thật thành thạo. Ở thể Đại Triện cụ thể hiện sự hùng cường, nhưng vẫn tự nhiên, hồn hậu. Ở thể Tiểu Triện nét bút thống nhất nhưng thanh thoát, biến hoá. Với Lệ Thư cụ thể hiện sự đơn giản, dáng chữ vuông vức và mang tính thực dụng. Đặc biệt ở thể Cuồng Thảo nét chữ như bay nhảy, phóng túng, thế bút luôn uốn lượn, quấn quýt vào nhau. Ngắm cụ viết lúc đó ta như được ngắm một nghệ sĩ múa đang thể hiện say mê vũ điệu của mình. Trong lạc khoản và ấn chương các bức thư hoạ của cụ Hoà đều có hiệu Thanh Hoằng Khê, cụ đã mang cả tên xã, huyện tỉnh của mình vào đó như một nỗi niềm đau đáu với quê hương. Có người nói rằng thư pháp của cụ Hoà không thua kém gì các Đại thư pháp Trung Hoa như Âu Dương Tuần hay Triệu Mạnh Phủ.

Có một nhà thư pháp mà tôi chưa có may mắn gặp nhưng đã được chiêm ngưỡng những bức thư hoạ, đó là cụ Nguyễn Bách, cụ còn có tên là thầy lang Bách. Cụ Bách viết chữ chỉ để chơi như một thú tiêu khiển khi nhàn rỗi và viết chữ cũng chỉ để cho, tặng bạn bè. Mà thích ai thì cụ cho, còn không xin được. Nghe nói ông Kim Lân, khi được cụ Bách viết cho bài thơ “Tầm giả ẩn” đã không dám nhận. Việc chính của cụ là chữa bệnh cứu người. Hồi đầu năm 2009 tôi theo anh Nguyễn Vĩnh Lộc đến nhà cụ Vũ Tuân Sán. Anh Lộc là con trai cụ Viên Mai, tác giả của Phi Sa tập. Trong di cảo của cụ Viên Mai anh Lộc có soạn lại và đem xuất bản cuốn “Chuyện cũ bên dòng sông Tô”. Vì cụ Vũ Tuân Sán là bạn cụ Viên Mai nên anh Lộc đem sách biếu. Cụ Vũ Tuân Sán lúc này đã chín mươi lăm tuổi, đã là độ tuổi trên tuổi đại lão. Cụ nói, cụ học ông Võ Nguyên Giáp và kém ông Giáp bốn tuổi. Cụ là bạn cùng học với ông Vũ Đình Huỳnh nhưng lại hơn ông Huỳnh ba tuổi. Chín mươi lăm tuổi nhưng cụ hoàn toàn minh mẫn, minh mẫn tới từng chi tiết. Cầm cuốn sách anh Lộc biếu, cụ hỏi: Anh có sửa chữa nhiều không. Anh Lộc thưa chỉ xem lại câu, chữ cho chính xác và chấm phẩy cho đúng chỗ thôi. Cụ bảo thế mà dùng “Hiệu đính: Nguyễn Vĩnh Lộc” là không đúng. Cụ còn giảng cho tôi thế nào là “nhuận sắc”, thế nào là “bỉnh bút”… Ngồi hỏi chuyện cụ về cuốn sách “Hà Nội xưa và nay” cụ bảo một nhà xuất bản ở thành phố Hồ Chí Minh đang xin tái bản. Cụ dẫn chúng tôi thăm vườn, thăm nhà thờ chi tộc. Rồi cụ lấy chìa khoá mở cửa gian nhà nhỏ nằm giữa vườn, trước là thư phòng của cụ thân sinh ra cụ Sán. Cụ đang sắp xếp ghi chú lại những sách vở tài liệu của gia đình. Trên tường nổi lên đôi câu đối mà cụ Bách viết tặng cụ Sán. Chữ thể Khải thư, viết trên lụa hoa tiên, chữ vuông vắn, nét bút ngay thẳng, vận bút linh hoạt mà bình ổn, kết cấu tề chỉnh mà tự nhiên, giàu tính nghệ thuật.

Mấy năm lại đây, chữ Việt ta cũng có người bày ra thư pháp. Cứ vẽ nguệch ngoạc, không ra đường nét, nhìn vào như các cháu vỡ lòng đang tập viết. Rồi họ cũng đưa triển lãm. Thư pháp cả tác phẩm Truyện Kiều với đủ ba ngàn hai trăm năm tư câu. Nghệ thuật là tận thiện, tận mỹ. Cảm nhận được nghệ thuật cũng cần có bản năng thiện, mỹ. Thật khó bàn!

*

Cách đây vài năm khi còn là đồng liêu với kỹ sư Vũ Phạm Chánh tôi có hỏi về đôi câu đối của cụ Thám hoa Vũ Phạm Hàm đắp trên cổng đền Kiếp Bạc, cốt để giải nghĩa cho chữ “Thu” vẫn còn đang tranh cãi ở các bậc Hán học cao thâm. Rồi đến mấy chữ “Ôn kỳ như ngọc” cụ Thám Đôn Thư viết cho Công sứ Hải Dương. Người nói Công sứ tức tối cho gia nhân chẻ cả hoành phi vất đi. Kẻ bảo Công sứ ngu, không biết gì nên vẫn để ? Ông kỹ sư họ Vũ nói là di cảo của cụ còn một số, vì biến động của thời cuộc nên đã thất tán nhiều. Những tác phẩm như trên cụ viết rồi đưa luôn bản gốc cho người dùng nên chỉ còn trên lời kể. Rồi ông giải thích thêm chữ Hán vốn đa nghĩa, nó tuỳ thuộc vào văn cảnh từng người. Chẳng hạn, có người cho chữ “Tâm” có thể người ta khen mình đức độ, biết vì nghĩa lớn, tận tuỵ hy sinh vì mọi người. Nhưng cũng có thể như lời nhắc mình còn thiếu cái đức, chưa hết lòng với cương vị của mình, chưa làm hết trách nhiệm với điều đã nói. Treo “Quốc thái dân an“có thể là ca tụng mình làm cho đất nước thanh bình, nhân dân yên ấm, nhưng cũng như nhắc nhở đất nước chưa vững bền, nhân dân chưa yên, mà phải làm cho nước vững dân yên! Chữ nghĩa mênh mông lắm, chơi chữ là để học, để dung dưỡng tinh thần, để mỗi ngày tự nhắc mình vươn đến cái tốt, cái đẹp, cái lý tưởng mà mình mong đạt tới. Ông Kim Lân không nhận bức thư pháp mà cụ lang Bách tặng, âu cũng là một đức khiêm nhường mà đời nên học ở ông.

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: